Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes:

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.
Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

Sự đóng góp quan trọng của Việt Nam vào quá trình cập nhật mô hình kinh tế Cuba hoàn toàn phù hợp với tình hữu nghị đặc biệt, tình đoàn kết truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện mà hai nước đã vun đắp trong hơn sáu thập kỷ qua, trên nền tảng tin cậy lẫn nhau và sự đồng thuận về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Thưa Đại sứ, hơn 470 tấn gạo đầu tiên được sản xuất từ giống lúa Việt Nam tại Cuba vừa được bàn giao. Đại sứ đánh giá thế nào về ý nghĩa của kết quả này?

- Việc đại diện Công ty nông nghiệp TBAgri của Việt Nam và Công ty Nông công nghiệp Ngũ cốc Fernando Echenique (GRANMAX) của Cuba bàn giao 470 tấn gạo đầu tiên được sản xuất trong khuôn khổ dự án “TBAgri kết nối Việt Nam-Cuba” trên các cánh đồng huyện Yara (tỉnh Granma), là thành tựu mới có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hợp tác nông nghiệp giữa hai nước, góp phần hướng tới mục tiêu tăng cường chủ quyền và bảo đảm an ninh lương thực của Cuba.

Trong bối cảnh Cuba đang phải đối mặt với những khó khăn ngày càng nghiêm trọng do lệnh bao vây, cấm vận kinh tế và bao vây năng lượng của Chính phủ Hoa Kỳ, những kết quả đạt được là minh chứng cụ thể cho tình đoàn kết giữa hai nước, đồng thời cho thấy tiềm năng thúc đẩy sản xuất lương thực trong nước và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, sử dụng công nghệ nông nghiệp bền vững và triển khai những mô hình quản lý đổi mới trong khuôn khổ dự án đã mang lại năng suất bước đầu rất đáng khuyến khích, từ 7 đến 8 tấn/ha, nhận được sự đánh giá cao của các nhà sản xuất Cuba và chính quyền địa phương. Việc từng bước mở rộng diện tích canh tác và tiếp tục chia sẻ những kinh nghiệm tích cực này với các nhà sản xuất Cuba sẽ mở ra triển vọng đạt được những kết quả thiết thực và hiệu quả hơn nữa cho cả hai bên.

- Từ thành công bước đầu tại tỉnh Granma, Cuba có định hướng như thế nào trong việc nhân rộng mô hình hợp tác sản xuất lúa gạo với Việt Nam, thưa Đại sứ?

- Hợp tác giữa Cuba và Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo đã đạt được những kết quả tích cực trong hơn 20 năm qua. Ban đầu, hai bên tập trung nghiên cứu điều kiện thực tế của Cuba và triển khai các mô hình quy mô nhỏ. Qua từng giai đoạn, hợp tác dần chuyển sang chuyển giao công nghệ, với việc hoàn thiện phương pháp canh tác, áp dụng các gói công nghệ đồng bộ, đẩy mạnh cơ giới hóa, đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời mở rộng sang các mô hình thâm canh và sản xuất quy mô lớn.

Từ năm 2024, hình thức hợp tác bắt đầu chuyển sang các dự án đầu tư cùng có lợi, do các doanh nghiệp Việt Nam triển khai. Để hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển năng lực sản xuất, Cuba đã dành những điều kiện thuận lợi và chính sách ưu đãi đặc biệt. Trong quá trình đó, các doanh nghiệp như Agri VMA tại Los Palacios (tỉnh Pinar del Río) và TB Agri tại Yara (tỉnh Granma), đang từng bước chứng minh tính khả thi của các mô hình quản lý được triển khai, như việc giao đất theo hình thức usufruct để phía Việt Nam áp dụng các gói công nghệ đồng bộ; hợp tác với các doanh nghiệp Cuba; hoặc trực tiếp cung ứng vật tư nông nghiệp cho các nhà sản xuất.

Bên cạnh đó, các dự án cũng từng bước áp dụng các phương thức canh tác nông nghiệp sinh thái nhằm bảo đảm tính bền vững về môi trường, sử dụng giống lai và công nghệ nông nghiệp tiên tiến, đồng thời xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ việc sấy, chế biến và tiêu thụ lúa gạo. Nhờ đó, toàn bộ chu trình sản xuất được khép kín và vận hành hiệu quả hơn.

Toàn bộ sản lượng hiện được dành cho tiêu dùng trong nước, qua đó góp phần giảm nguồn lực tài chính dành cho nhập khẩu, tạo thêm việc làm và từng bước củng cố chủ quyền, an ninh lương thực của đất nước. Đây là một trong những ưu tiên chiến lược của Cuba trong bối cảnh hiện nay.

- Theo Đại sứ, những dự án hợp tác kinh tế như vậy có ý nghĩa thế nào trong việc đưa quan hệ hữu nghị đặc biệt và tin cậy chính trị Việt Nam-Cuba ngày càng đi vào chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước?

- Với kinh nghiệm phong phú mà Việt Nam đã tích lũy được trong sản xuất lúa gạo nói riêng và lĩnh vực nông nghiệp nói chung, chúng tôi kỳ vọng sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các dự án cùng có lợi tại Cuba, qua đó góp phần đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường.

Chính phủ Cuba đã đánh giá cao kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình Đổi mới và coi đây là một kinh nghiệm tham khảo có giá trị trong quá trình triển khai những cải cách nói trên. Trong bối cảnh đó, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực mà sự tham gia của Việt Nam có thể mang lại những đóng góp rất thiết thực.

Sự đóng góp quan trọng của Việt Nam vào quá trình cập nhật mô hình kinh tế Cuba hoàn toàn phù hợp với tình hữu nghị đặc biệt, tình đoàn kết truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện mà hai nước đã vun đắp trong hơn sáu thập kỷ qua, trên nền tảng tin cậy lẫn nhau và sự đồng thuận về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

1wupukjq2urj0hjba2h8kx8gsiusk7o7w5tskscuohp49btbgwr1vunwfxut0vgfc68.jpg
Đại sứ Rogelio Polanco Fuentes (người cầm bó lúa) tháp tùng Bộ trưởng Nông nghiệp Cuba Ydael Pérez Brito (thứ năm, từ bên trái) đi khảo sát một số khu vực thuộc Công ty Nông công nghiệp Lương thực Los Palacios, tỉnh Pinar del Río, một trong những địa điểm triển khai dự án sản xuất lúa gạo hợp tác với Việt Nam.

- Một trong những điểm quan trọng của Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, đó là nhấn mạnh phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong mở rộng không gian phát triển và huy động nguồn lực bên ngoài. Đại sứ nhìn nhận thế nào về định hướng này và tiềm năng hợp tác Việt Nam-Cuba trong thời gian tới?

- Sau các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước vào các năm 2024 và 2025, cùng với những nhận thức chung đạt được, quan hệ hợp tác giữa Cuba và Việt Nam đã bước vào một giai đoạn phát triển mới với chất lượng cao hơn, theo hướng hiệu quả, thực chất, toàn diện và bền vững hơn, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước.

Những tiến triển trong các dự án sản xuất lương thực tại Cuba, xây dựng các công viên năng lượng tái tạo, cũng như sản xuất, nghiên cứu và cùng phát triển các sản phẩm dược sinh học là những ưu tiên trong Chương trình nghị sự kinh tế song phương giai đoạn 2026-2030. Bên cạnh đó, hai bên sẽ tiếp tục xác định các lĩnh vực hợp tác và đầu tư liên quan khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, dịch vụ y tế, đào tạo nguồn nhân lực và nhiều lĩnh vực khác.

- Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, Đại sứ kỳ vọng Việt Nam và Cuba có thể tăng cường phối hợp, hỗ trợ như thế nào, đặc biệt trong các lĩnh vực như an ninh lương thực, phát triển bền vững và hợp tác giữa các nước đang phát triển?

- Cuba đánh giá rất cao những mục tiêu đầy tham vọng mà Việt Nam đề ra trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cũng như mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào dịp kỷ niệm 100 năm Tuyên ngôn Độc lập. Đồng thời, chúng tôi cũng đánh giá cao những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, cũng như quá trình triển khai các định hướng đó. Điều này thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong việc tiếp tục theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần xây dựng một mô hình phát triển mới nhanh và bền vững, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh hòa bình và an ninh quốc tế đang phải đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng, các cuộc đối đầu địa chính trị ngày càng phức tạp, cùng những thách thức lớn đối với việc duy trì chủ nghĩa đa phương và tuân thủ luật pháp quốc tế, Cuba và Việt Nam cho thấy hoàn toàn có thể xây dựng và củng cố một mô hình quan hệ dựa trên hợp tác, tin cậy chính trị, đoàn kết và hỗ trợ, vì mục tiêu phát triển bền vững và hạnh phúc của Nhân dân hai nước, phù hợp với những mối quan hệ lịch sử do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Tư lệnh Fidel Castro gây dựng.

Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản đó, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm hợp tác này với các quốc gia khác thuộc phương Nam, là cam kết của các thế hệ lãnh đạo và Nhân dân hai nước hôm nay và mai sau. Để thực hiện cam kết đó, Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước sẽ tiếp tục dành những nỗ lực cao nhất nhằm củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác đặc biệt giữa Cuba và Việt Nam.

- Xin chân thành cảm ơn Đại sứ!

Việc Cuba gần đây phê duyệt 176 nội dung cải cách kinh tế và xã hội nhằm khuyến khích sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế, trong đó có khu vực tư nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, sẽ tạo thêm điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam mở rộng sự hiện diện và tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển kinh tế của Cuba.

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.