Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt
Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Trong dòng chảy ấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội cùng khẳng định một tư tưởng lớn: Muốn đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn, văn hóa và con người phải thật sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh và động lực của phát triển.

Quyền làm chủ vận mệnh và năng lực làm chủ tương lai

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, trong tâm thức người Việt Nam lại vang lên những lời bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Đó không chỉ là tuyên bố khai sinh một Nhà nước mới, mà sâu xa hơn là lời khẳng định: Một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ khoảnh khắc lịch sử ấy, “Độc lập” trở thành điều kiện tiên quyết để Nhân dân được sống trong “Tự do”, đất nước được kiến thiết theo con đường mình lựa chọn và các thế hệ người Việt Nam có trách nhiệm làm cho nền độc lập ấy ngày càng có nội dung phong phú hơn.

81 năm đã đi qua. Việt Nam hôm nay đã khác rất xa một đất nước vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa. Qua chiến tranh, kiến thiết và gần bốn thập niên đổi mới, thế và lực của đất nước đã được nâng lên rõ rệt. Nhưng lịch sử luôn đặt ra những câu hỏi mới. Nếu thế hệ cha anh phải trả lời câu hỏi làm thế nào giành và giữ độc lập, thì thế hệ hôm nay phải trả lời: Làm thế nào để một đất nước độc lập phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn và có năng lực tạo ra tương lai của chính mình?

Chính trong ý nghĩa đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mang một ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là câu chuyện điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế, mà là yêu cầu đổi mới cách đất nước tạo ra, huy động, phân bổ và thụ hưởng các nguồn lực phát triển; đổi mới đồng bộ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị quốc gia. Nghị quyết hướng tới mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập - một mô hình trong đó sức mạnh quốc gia không chỉ đến từ vốn, tài nguyên hay quy mô thị trường, mà ngày càng đến từ chất lượng thể chế, khoa học công nghệ, năng lực sáng tạo và chất lượng con người.

Khi đặt vấn đề về mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia”. Đây là một cách diễn đạt rất sâu sắc về nội hàm mới của độc lập trong thế kỷ XXI. Một quốc gia có chủ quyền nhưng phụ thuộc quá lớn vào công nghệ cốt lõi, dữ liệu, chuỗi cung ứng hay nguồn nhân lực từ bên ngoài vẫn có thể dễ bị tổn thương. Tự chủ hôm nay không phải khép cửa, mà là hội nhập sâu rộng nhưng có khả năng lựa chọn; hợp tác rộng mở nhưng có năng lực đứng vững; tiếp nhận tri thức của nhân loại nhưng đồng thời có khả năng sản sinh tri thức, sản phẩm và giá trị của chính mình.

Trong năng lực tự chủ ấy, văn hóa giữ một vị trí không thể thay thế. Một dân tộc chỉ thật sự tự tin hội nhập khi biết mình là ai và có những giá trị gì để đóng góp cho nhân loại. Máy móc, vốn hay công nghệ có thể nhập khẩu, nhưng căn cốt văn hóa, lòng yêu nước, niềm tin xã hội và khát vọng quốc gia phải được bồi đắp từ bên trong. Cha ông đã giành cho chúng ta quyền làm chủ vận mệnh; trách nhiệm hôm nay là xây dựng năng lực để thực hiện quyền ấy hiệu quả trong một thế giới cạnh tranh và biến động.

Từ Ba Đình mùa Thu năm 1945 đến Việt Nam của năm 2026 là hành trình một dân tộc không ngừng mở rộng nội hàm của khái niệm “độc lập”: Độc lập để tự quyết định con đường đi; độc lập để người dân thật sự làm chủ; độc lập để sáng tạo; độc lập để hội nhập với tâm thế tự tin; và cao hơn hết, độc lập để mỗi thế hệ người Việt Nam có cơ hội xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn thế hệ trước.

Khi văn hóa đi vào trung tâm của mô hình phát triển

Nếu Nghị quyết 19 đặt ra khung đổi mới tổng thể mô hình phát triển quốc gia, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam làm rõ một trụ cột đặc biệt của mô hình ấy: Văn hóa và con người.
Điểm mới quan trọng của Nghị quyết 80 không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Nghị quyết đặt văn hóa trong quan hệ trực tiếp hơn với phát triển, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đặt con người vào vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất. Văn hóa vì thế không còn được nhìn chủ yếu như lĩnh vực cần bảo tồn, đầu tư và thụ hưởng, mà ngày càng được nhìn như một năng lực tạo ra giá trị, một nguồn vốn xã hội, một yếu tố của năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Từng bước chuyển mạnh tư duy từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển”. Đây là một thông điệp có tính định hướng rất lớn. Quản lý vẫn cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở quản lý thì rất khó đánh thức đầy đủ nguồn lực văn hóa. Kiến tạo phát triển có nghĩa là Nhà nước không chỉ bảo vệ di sản, cấp phép hay kiểm tra hoạt động văn hóa, mà còn phải tạo môi trường để nghệ sĩ sáng tạo, để doanh nghiệp văn hóa lớn lên, để di sản có đời sống mới, để cộng đồng trở thành chủ thể và để những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam bước ra thị trường.

Tư duy ấy cũng cho thấy quan hệ trực tiếp giữa văn hóa với các động lực phát triển mới. Kinh tế sáng tạo cần văn hóa tôn trọng sáng tạo; năng suất cao cần trách nhiệm, kỷ luật và chuyên nghiệp; kinh tế số cần năng lực số và đạo đức số; thương hiệu mạnh cần trung thực, chữ tín và trách nhiệm xã hội. Công nghệ có thể tạo ra tốc độ, nhưng văn hóa giúp định hướng tốc độ ấy đi về phía con người.

Nguồn lực quốc gia, vì thế, phải được hiểu rộng hơn. Ngoài ngân sách, đất đai, hạ tầng hay tài nguyên, còn là tri thức của trí thức, sức sáng tạo của nghệ sĩ, tinh thần khởi nghiệp của người trẻ, sự gắn kết cộng đồng, di sản và niềm tin xã hội. Đó là phần vốn văn hóa và vốn xã hội rất lớn mà Việt Nam đã tích lũy qua lịch sử.

Đặc biệt, Nghị quyết 80 tạo nền tảng để nhìn công nghiệp văn hóa như một cách chuyển hóa bản sắc thành giá trị. Làn điệu dân gian có thể đi vào âm nhạc mới; họa tiết truyền thống bước vào thiết kế; câu chuyện lịch sử trở thành điện ảnh, hoạt hình hay trò chơi số; làng nghề trở thành không gian sáng tạo; di sản tạo sinh kế khi được kết nối đúng với du lịch, công nghệ và thị trường. Khi đó, bảo tồn làm cho sáng tạo có căn cốt, còn sáng tạo làm cho di sản tiếp tục sống. Đó là con đường để văn hóa trở thành một phần hữu cơ của mô hình phát triển mới.

Từ chủ trương đến cơ chế để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực

Một chủ trương lớn chỉ thật sự tạo ra thay đổi khi được thể chế hóa thành những cơ chế đủ mạnh và được tổ chức thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, là một bước rất quan trọng để đưa tinh thần Nghị quyết 80 đi vào cuộc sống.

Ý nghĩa nổi bật của Nghị quyết số 28 nằm ở chỗ nhiều yêu cầu lâu nay của lĩnh vực văn hóa bắt đầu được chuyển thành những cơ chế, chính sách cụ thể và có tính đột phá hơn. Từ bảo tồn di sản, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, nguồn nhân lực, hỗ trợ văn nghệ sĩ, hạ tầng văn hóa số đến thúc đẩy công nghiệp văn hóa, hình thành Quỹ văn hóa nghệ thuật, thu hút nguồn lực xã hội và phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số - tất cả đều hướng tới tháo gỡ một điểm nghẽn: Việt Nam có rất nhiều tiềm năng văn hóa, nhưng cơ chế để biến tiềm năng thành nguồn lực chưa tương xứng.

Điều quan trọng bây giờ là làm cho những chính sách ấy tạo nên những kết quả cụ thể trong đời sống. Quỹ văn hóa nghệ thuật phải thật sự hỗ trợ sáng tạo; hạ tầng văn hóa số phải giúp di sản, dữ liệu và sản phẩm văn hóa được tiếp cận thuận lợi, bảo vệ bản quyền và khai thác có trách nhiệm; chính sách công nghiệp văn hóa phải tạo thêm doanh nghiệp, việc làm sáng tạo, thương hiệu Việt Nam và khả năng xuất khẩu sản phẩm văn hóa; còn chính sách với vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải giúp cộng đồng vừa giữ bản sắc, vừa tạo sinh kế bền vững. Bởi cuối cùng, văn hóa phát triển là để hình thành những con người tốt hơn, một xã hội nhân văn hơn và một quốc gia có sức mạnh bền vững hơn.

Một quốc gia phát triển không thể chỉ được mô tả bằng tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Người dân còn quan tâm đến thu nhập, giáo dục, y tế, môi trường sống, sự an toàn và việc họ có được sống trong một xã hội tử tế, nhân ái, giàu cơ hội hay không. Bởi vậy, chữ “nhân văn” trong mô hình phát triển mới có ý nghĩa rất sâu sắc.

Nghị quyết số 19, Nghị quyết số 80 và Nghị quyết số 28 đang mở ra cơ hội để văn hóa không còn đứng bên cạnh phát triển, mà trở thành một phần cấu thành của chính quá trình phát triển. Khi thể chế giải phóng sức sáng tạo, giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và sức mạnh mềm, nghệ sĩ được tôn trọng, doanh nghiệp được tạo điều kiện và cộng đồng được trao quyền, đất nước sẽ có thêm một nguồn năng lượng lớn để đi xa.

Bởi, sức mạnh của một dân tộc cuối cùng không chỉ được đo bằng những gì dân tộc ấy sở hữu, mà còn bằng những giá trị mà dân tộc ấy tin tưởng, những con người mà dân tộc ấy tạo ra và tương lai mà dân tộc ấy đủ bản lĩnh để kiến tạo. Đó cũng chính là thông điệp đẹp nhất của ngày Quốc khánh hôm nay: Từ nền độc lập mà cha ông đã giành được, bằng sức mạnh của văn hóa, trí tuệ và khát vọng Việt Nam, chúng ta có thể xây dựng một đất nước không chỉ giàu mạnh hơn, mà còn nhân văn hơn, có bản sắc hơn và đủ tự tin để đóng góp những giá trị của mình cho thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.