Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt
Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Trong dòng chảy ấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội cùng khẳng định một tư tưởng lớn: Muốn đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn, văn hóa và con người phải thật sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh và động lực của phát triển.

Quyền làm chủ vận mệnh và năng lực làm chủ tương lai

Mỗi dịp Quốc khánh 2/9, trong tâm thức người Việt Nam lại vang lên những lời bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Đó không chỉ là tuyên bố khai sinh một Nhà nước mới, mà sâu xa hơn là lời khẳng định: Một dân tộc đã giành lại quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Từ khoảnh khắc lịch sử ấy, “Độc lập” trở thành điều kiện tiên quyết để Nhân dân được sống trong “Tự do”, đất nước được kiến thiết theo con đường mình lựa chọn và các thế hệ người Việt Nam có trách nhiệm làm cho nền độc lập ấy ngày càng có nội dung phong phú hơn.

81 năm đã đi qua. Việt Nam hôm nay đã khác rất xa một đất nước vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa. Qua chiến tranh, kiến thiết và gần bốn thập niên đổi mới, thế và lực của đất nước đã được nâng lên rõ rệt. Nhưng lịch sử luôn đặt ra những câu hỏi mới. Nếu thế hệ cha anh phải trả lời câu hỏi làm thế nào giành và giữ độc lập, thì thế hệ hôm nay phải trả lời: Làm thế nào để một đất nước độc lập phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, tự chủ hơn và có năng lực tạo ra tương lai của chính mình?

Chính trong ý nghĩa đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mang một ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là câu chuyện điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế, mà là yêu cầu đổi mới cách đất nước tạo ra, huy động, phân bổ và thụ hưởng các nguồn lực phát triển; đổi mới đồng bộ kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và quản trị quốc gia. Nghị quyết hướng tới mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập - một mô hình trong đó sức mạnh quốc gia không chỉ đến từ vốn, tài nguyên hay quy mô thị trường, mà ngày càng đến từ chất lượng thể chế, khoa học công nghệ, năng lực sáng tạo và chất lượng con người.

Khi đặt vấn đề về mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia”. Đây là một cách diễn đạt rất sâu sắc về nội hàm mới của độc lập trong thế kỷ XXI. Một quốc gia có chủ quyền nhưng phụ thuộc quá lớn vào công nghệ cốt lõi, dữ liệu, chuỗi cung ứng hay nguồn nhân lực từ bên ngoài vẫn có thể dễ bị tổn thương. Tự chủ hôm nay không phải khép cửa, mà là hội nhập sâu rộng nhưng có khả năng lựa chọn; hợp tác rộng mở nhưng có năng lực đứng vững; tiếp nhận tri thức của nhân loại nhưng đồng thời có khả năng sản sinh tri thức, sản phẩm và giá trị của chính mình.

Trong năng lực tự chủ ấy, văn hóa giữ một vị trí không thể thay thế. Một dân tộc chỉ thật sự tự tin hội nhập khi biết mình là ai và có những giá trị gì để đóng góp cho nhân loại. Máy móc, vốn hay công nghệ có thể nhập khẩu, nhưng căn cốt văn hóa, lòng yêu nước, niềm tin xã hội và khát vọng quốc gia phải được bồi đắp từ bên trong. Cha ông đã giành cho chúng ta quyền làm chủ vận mệnh; trách nhiệm hôm nay là xây dựng năng lực để thực hiện quyền ấy hiệu quả trong một thế giới cạnh tranh và biến động.

Từ Ba Đình mùa Thu năm 1945 đến Việt Nam của năm 2026 là hành trình một dân tộc không ngừng mở rộng nội hàm của khái niệm “độc lập”: Độc lập để tự quyết định con đường đi; độc lập để người dân thật sự làm chủ; độc lập để sáng tạo; độc lập để hội nhập với tâm thế tự tin; và cao hơn hết, độc lập để mỗi thế hệ người Việt Nam có cơ hội xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn thế hệ trước.

Khi văn hóa đi vào trung tâm của mô hình phát triển

Nếu Nghị quyết 19 đặt ra khung đổi mới tổng thể mô hình phát triển quốc gia, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam làm rõ một trụ cột đặc biệt của mô hình ấy: Văn hóa và con người.
Điểm mới quan trọng của Nghị quyết 80 không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Nghị quyết đặt văn hóa trong quan hệ trực tiếp hơn với phát triển, coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực của phát triển nhanh, bền vững; đồng thời đặt con người vào vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất. Văn hóa vì thế không còn được nhìn chủ yếu như lĩnh vực cần bảo tồn, đầu tư và thụ hưởng, mà ngày càng được nhìn như một năng lực tạo ra giá trị, một nguồn vốn xã hội, một yếu tố của năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Từng bước chuyển mạnh tư duy từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển”. Đây là một thông điệp có tính định hướng rất lớn. Quản lý vẫn cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở quản lý thì rất khó đánh thức đầy đủ nguồn lực văn hóa. Kiến tạo phát triển có nghĩa là Nhà nước không chỉ bảo vệ di sản, cấp phép hay kiểm tra hoạt động văn hóa, mà còn phải tạo môi trường để nghệ sĩ sáng tạo, để doanh nghiệp văn hóa lớn lên, để di sản có đời sống mới, để cộng đồng trở thành chủ thể và để những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam bước ra thị trường.

Tư duy ấy cũng cho thấy quan hệ trực tiếp giữa văn hóa với các động lực phát triển mới. Kinh tế sáng tạo cần văn hóa tôn trọng sáng tạo; năng suất cao cần trách nhiệm, kỷ luật và chuyên nghiệp; kinh tế số cần năng lực số và đạo đức số; thương hiệu mạnh cần trung thực, chữ tín và trách nhiệm xã hội. Công nghệ có thể tạo ra tốc độ, nhưng văn hóa giúp định hướng tốc độ ấy đi về phía con người.

Nguồn lực quốc gia, vì thế, phải được hiểu rộng hơn. Ngoài ngân sách, đất đai, hạ tầng hay tài nguyên, còn là tri thức của trí thức, sức sáng tạo của nghệ sĩ, tinh thần khởi nghiệp của người trẻ, sự gắn kết cộng đồng, di sản và niềm tin xã hội. Đó là phần vốn văn hóa và vốn xã hội rất lớn mà Việt Nam đã tích lũy qua lịch sử.

Đặc biệt, Nghị quyết 80 tạo nền tảng để nhìn công nghiệp văn hóa như một cách chuyển hóa bản sắc thành giá trị. Làn điệu dân gian có thể đi vào âm nhạc mới; họa tiết truyền thống bước vào thiết kế; câu chuyện lịch sử trở thành điện ảnh, hoạt hình hay trò chơi số; làng nghề trở thành không gian sáng tạo; di sản tạo sinh kế khi được kết nối đúng với du lịch, công nghệ và thị trường. Khi đó, bảo tồn làm cho sáng tạo có căn cốt, còn sáng tạo làm cho di sản tiếp tục sống. Đó là con đường để văn hóa trở thành một phần hữu cơ của mô hình phát triển mới.

Từ chủ trương đến cơ chế để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực

Một chủ trương lớn chỉ thật sự tạo ra thay đổi khi được thể chế hóa thành những cơ chế đủ mạnh và được tổ chức thực hiện hiệu quả. Chính vì vậy, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, là một bước rất quan trọng để đưa tinh thần Nghị quyết 80 đi vào cuộc sống.

Ý nghĩa nổi bật của Nghị quyết số 28 nằm ở chỗ nhiều yêu cầu lâu nay của lĩnh vực văn hóa bắt đầu được chuyển thành những cơ chế, chính sách cụ thể và có tính đột phá hơn. Từ bảo tồn di sản, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, nguồn nhân lực, hỗ trợ văn nghệ sĩ, hạ tầng văn hóa số đến thúc đẩy công nghiệp văn hóa, hình thành Quỹ văn hóa nghệ thuật, thu hút nguồn lực xã hội và phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số - tất cả đều hướng tới tháo gỡ một điểm nghẽn: Việt Nam có rất nhiều tiềm năng văn hóa, nhưng cơ chế để biến tiềm năng thành nguồn lực chưa tương xứng.

Điều quan trọng bây giờ là làm cho những chính sách ấy tạo nên những kết quả cụ thể trong đời sống. Quỹ văn hóa nghệ thuật phải thật sự hỗ trợ sáng tạo; hạ tầng văn hóa số phải giúp di sản, dữ liệu và sản phẩm văn hóa được tiếp cận thuận lợi, bảo vệ bản quyền và khai thác có trách nhiệm; chính sách công nghiệp văn hóa phải tạo thêm doanh nghiệp, việc làm sáng tạo, thương hiệu Việt Nam và khả năng xuất khẩu sản phẩm văn hóa; còn chính sách với vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải giúp cộng đồng vừa giữ bản sắc, vừa tạo sinh kế bền vững. Bởi cuối cùng, văn hóa phát triển là để hình thành những con người tốt hơn, một xã hội nhân văn hơn và một quốc gia có sức mạnh bền vững hơn.

Một quốc gia phát triển không thể chỉ được mô tả bằng tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Người dân còn quan tâm đến thu nhập, giáo dục, y tế, môi trường sống, sự an toàn và việc họ có được sống trong một xã hội tử tế, nhân ái, giàu cơ hội hay không. Bởi vậy, chữ “nhân văn” trong mô hình phát triển mới có ý nghĩa rất sâu sắc.

Nghị quyết số 19, Nghị quyết số 80 và Nghị quyết số 28 đang mở ra cơ hội để văn hóa không còn đứng bên cạnh phát triển, mà trở thành một phần cấu thành của chính quá trình phát triển. Khi thể chế giải phóng sức sáng tạo, giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và sức mạnh mềm, nghệ sĩ được tôn trọng, doanh nghiệp được tạo điều kiện và cộng đồng được trao quyền, đất nước sẽ có thêm một nguồn năng lượng lớn để đi xa.

Bởi, sức mạnh của một dân tộc cuối cùng không chỉ được đo bằng những gì dân tộc ấy sở hữu, mà còn bằng những giá trị mà dân tộc ấy tin tưởng, những con người mà dân tộc ấy tạo ra và tương lai mà dân tộc ấy đủ bản lĩnh để kiến tạo. Đó cũng chính là thông điệp đẹp nhất của ngày Quốc khánh hôm nay: Từ nền độc lập mà cha ông đã giành được, bằng sức mạnh của văn hóa, trí tuệ và khát vọng Việt Nam, chúng ta có thể xây dựng một đất nước không chỉ giàu mạnh hơn, mà còn nhân văn hơn, có bản sắc hơn và đủ tự tin để đóng góp những giá trị của mình cho thế giới.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.