- Thưa ông, theo Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT, sửa đổi bổ sung Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT ngày 26/12/2025 về Danh mục BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam và Danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam, vẫn có hàng trăm loại thuốc được sử dụng. Danh mục này có vẻ vẫn quá dày?
- Danh mục thuốc BVTV của Việt Nam không phải là danh mục bắt buộc phải sử dụng, mà là Danh mục các sản phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam, sau khi đã được cơ quan nhà nước đánh giá về hiệu lực, an toàn đối với cây trồng, sức khỏe con người và môi trường theo quy định. Hiện nay, Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng có 521 hoạt chất với 5.985 tên thương phẩm. So với các nước trên thế giới, số lượng thuốc BVTV trong danh mục của Việt Nam chỉ bằng khoảng 11% so Trung Quốc (53.027 sản phẩm), 34% so Thái Lan (17.131 sản phẩm), 50% so Australia (11.604 sản phẩm) và ít hơn nhiều so các quốc gia khác.
Như vậy, việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam không đồng nghĩa là sử dụng nhiều loại vật tư này cho sản xuất nông nghiệp, trong khi các biện pháp bảo vệ sản xuất đang được áp dụng phổ biến và rộng rãi như IPM, IPHM, các biện pháp canh tác khác... và chỉ sử dụng thuốc BVTV khi cần thiết.
Bên cạnh đó, đặc điểm sản xuất nông nghiệp của Việt Nam rất đa dạng, với hơn 200 loại cây trồng, hàng trăm đối tượng sinh vật gây hại, nhiều vùng sinh thái và mùa vụ khác nhau. Một hoạt chất có thể được đăng ký dưới nhiều dạng thành phẩm, nhiều hàm lượng, nhiều dạng thuốc và nhiều doanh nghiệp khác nhau để tạo sự lựa chọn phù hợp cho từng loại cây trồng, đối tượng dịch hại và điều kiện sử dụng. Mặt khác, việc duy trì các sản phẩm cũng góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, giúp nông dân có nhiều lựa chọn, tránh tình trạng độc quyền, góp phần ổn định giá thuốc và bảo đảm nguồn cung khi xảy ra biến động thị trường.
- Hằng năm, vẫn có nhiều cơ sở bị phát hiện vi phạm như thuốc không có trong Danh mục được phép sử dụng, bán thuốc giả, thiếu nơi lưu chứa... Lỗ hổng này là từ đâu, thưa ông?
- Tình trạng sản xuất, vận chuyển, kinh doanh thuốc BVTV giả, không bảo đảm chất lượng, ngoài danh mục, không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn xảy ra ở một số địa phương do một số nguyên nhân sau:
Siêu lợi nhuận thu được từ việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán những mặt hàng này; phương thức hoạt động của các đối tượng ngày càng tinh vi, chuyên nghiệp; chào bán trên các trang mạng xã hội; ở một số địa bàn thì thuê người mang đến các cửa hàng, đại lý chào hàng và sau đó vận chuyển hàng đến cho người mua...; lợi dụng sự mất cảnh giác, tâm lý ham rẻ và sự thiếu thông tin của một bộ phận nông dân, để tiêu thụ hàng giả thông qua chiêu trò chiết khấu cao, bán nợ, trả chậm hoặc khuyến mại.
Ngoài ra, các doanh nghiệp làm ăn chân chính vẫn còn thờ ơ, chưa làm tốt khâu kết nối, đưa sản phẩm chất lượng đến tay người tiêu dùng. Hoạt động sản xuất thuốc BVTV giả, kém chất lượng thường bí mật khép kín từ khâu sản xuất đến vận chuyển, tiêu thụ; sản xuất quy mô nhỏ, đơn lẻ tại tỉnh này nhưng bán cho các cửa hàng, đại lý tỉnh khác nhằm tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng.
- Xin ông chia sẻ giải pháp khả thi giúp hoạt động kinh doanh mặt hàng này đi vào ổn định, và để người nông dân có thể biết rõ mình đang sử dụng hàng thật hay hàng giả?
- Về phía doanh nghiệp, nên sử dụng tem chống hàng giả, có giải pháp mang tính chiến lược, căn cơ trong việc quảng bá, giới thiệu, kết nối sản phẩm đến tay người tiêu dùng, từ đó ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng.
Về phía người dân, cần trang bị những hiểu biết, thông tin cần thiết về sản phẩm để trở thành người tiêu dùng thông thái; chọn mua thuốc BVTV từ các nhà cung cấp và thương hiệu uy tín; mua thuốc BVTV từ các cửa hàng hoặc đại lý đáng tin cậy; nêu cao tinh thần cảnh giác, khi phát hiện sự lưu thông của hàng giả, kém chất lượng cần thông tin lại ngay cho nhà sản xuất và cơ quan chức năng để các lực lượng kịp thời cùng vào cuộc xác minh, làm rõ, xử lý theo thẩm quyền.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật; xây dựng và ban hành các hướng dẫn về việc truy xuất nguồn gốc, hệ thống truy xuất thống nhất trên nền tảng số quốc gia đối với thuốc BVTV trên cơ sở quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phối hợp các đơn vị, tổ chức, địa phương, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng tổ chức tập huấn, hướng dẫn sử dụng các ứng dụng số, đặc biệt đối với các đại lý và hộ nông dân ở vùng sản xuất tập trung.
Tôi xin nhấn mạnh: Mới đây Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT ngày 30/6/2026 về ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong đó, thuốc BVTV là hàng hóa rủi ro cao. Theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP thì các hàng hóa có mức độ rủi ro cao bắt buộc phải thực hiện việc truy xuất nguồn gốc.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang phối hợp các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiên cứu xây dựng các quy định hướng dẫn và đề xuất lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc đối với thuốc BVTV bảo đảm nguyên tắc khả thi, đồng bộ, không làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu quản lý.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Trước đây, lượng thuốc BVTV sử dụng trung bình là 1,7 kg/ha, bằng với lượng thuốc sử dụng tại Thái Lan và thấp hơn rất nhiều so các nước khác như Trung Quốc (13,1 kg/ha), Nhật Bản (11,8 kg/ha), Malaysia (8,1 kg/ha). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Việt Nam chỉ sử dụng khoảng 1,5 kg/ha thuốc BVTV, giảm khoảng 10% so những năm trước đây.