Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt
“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Từ chiến tranh đến hòa bình, thống nhất. Từ một đất nước nghèo nàn, bị bao vây, cấm vận đến một Việt Nam mở cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống quốc tế. Nhưng có một điều dường như không thay đổi, đó là “thế đi đứng của toàn dân tộc”.

Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nói với đồng bào mình, mà còn là lời nhắn gửi tới bè bạn năm châu. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Người dẫn lại những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Rồi Người dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, khẳng định những quyền thiêng liêng của con người. Từ quyền con người, Bác đi đến một bước phát triển đặc biệt sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

“Suy rộng ra”, chỉ ba từ, nhưng mở ra bốn phương tám hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không đặt quyền độc lập của Việt Nam trong sự biệt lập với thế giới. Người đặt vấn đề dân tộc trong chính dòng chảy của những giá trị mà nhân loại tiến bộ đã cùng nhau xác lập. Người dùng tiếng nói chung để khẳng định quyền thiêng liêng của dân tộc. Đó là một tư duy đối ngoại rất sâu sắc, lấy lợi ích dân tộc làm điểm tựa nhưng biết đặt lợi ích ấy trong những giá trị chung của nhân loại. Điều này cha ông ta nói mộc mạc rằng, sống với hàng xóm láng giềng có tình, có nghĩa, ăn ở với nhau như bát nước đầy.

Từ Tuyên ngôn Độc lập nhìn lại hành trình trải dài hơn 80 năm, có thể nhận ra mạch tư tưởng xuyên suốt trong đường lối đối ngoại Việt Nam. Độc lập, tự chủ nhưng không biệt lập. Kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách lược. Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc nhưng luôn coi trọng hòa bình, hợp tác và những giá trị chung của cộng đồng quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói một câu rất giản dị mà hàm chứa cả một triết lý về sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Ngoại giao vì thế không phải là tiếng nói thay thế cho thực lực quốc gia. Nhưng thực lực nếu không được chuyển hóa thành vị thế, thành quan hệ, thành lòng tin và thành những cơ hội hợp tác thì sức mạnh ấy cũng khó phát huy hết giá trị.
Sức mạnh và chiến công ấy vẫn ngời sáng trên những trang vàng lịch sử dân tộc!

Trong những cuộc đối đầu không cân sức, cha ông ta từng lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo; lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều. Một bài học vô giá trong ngoại giao được đúc kết là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đằng sau mỗi chiến công không chỉ có sức mạnh của gươm giáo, mà còn có sức mạnh của chính nghĩa, của lòng dân, của nghệ thuật ứng xử và khả năng quy tụ những lực lượng có lợi cho đại nghĩa. Ngoại giao Việt Nam hiện đại kế thừa tinh thần, truyền thống quý báu đó.

Luật tục cổ truyền Thái-Việt có câu: “Có việc gì hãy hỏi lại lịch sử”. Mỗi thời đại, mỗi dân tộc có một cách suy ngẫm về lịch sử và làm nên lịch sử. Nếu cha ông phải mở đường qua những cánh cửa chiến tranh, thì hôm nay đất nước đang mở những cánh cửa của hòa bình, hợp tác, khoa học-công nghệ, thương mại, đầu tư... Chúng ta không né tránh gió lớn, mà học cách bay trong gió lớn không bị mất phương hướng.

Nghị quyết Đại hội XIV xác định yêu cầu thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đồng thời phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước. Nếu trước đây đối ngoại được nhìn nhiều từ yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ gìn môi trường hòa bình và tranh thủ nguồn lực quốc tế, thì hôm nay đối ngoại ngày càng phải trở thành một nguồn lực phát triển chiến lược.

Đúng vào Ngày sinh nhật Bác năm nay, 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 06-NQ/TW, chính là một bước cụ thể hóa quan trọng theo hướng đó. Từ tư duy đối ngoại đến yêu cầu hoàn thiện lý luận về đối ngoại Việt Nam, xây dựng nền ngoại giao hiện đại, chuyên nghiệp, toàn diện, chuyển đổi số mạnh mẽ và gắn kết chặt chẽ với kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ và văn hóa. Đó là sự chuyển động từ tư duy ứng phó sang tư duy kiến tạo. Ngoại giao không chỉ đứng trước cánh cửa để giữ gìn những gì đất nước đang có. Ngoại giao còn phải mở thêm những cánh cửa mới.

Trong nửa đầu năm 2026, dấu ấn của tư duy ấy đã được thể hiện ngày càng rõ. Quan hệ với các đối tác lớn và các trung tâm quyền lực quốc tế tiếp tục được xử lý chủ động, linh hoạt. Ngoại giao gắn ngày càng chặt với thương mại, đầu tư, khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đào tạo nhân lực. Các hoạt động đối ngoại cũng hướng nhiều hơn tới địa phương và doanh nghiệp. Điều đó cho thấy một thay đổi quan trọng - đối ngoại không còn là câu chuyện chỉ riêng thuộc về các nhà ngoại giao. Khi ấy, ngoại giao thật sự sống trong đời sống. Và cũng từ đây xuất hiện một bước chuyển đáng chú ý trong tư thế quốc gia, từ chỗ “tham gia luật chơi” đến góp phần “định hình luật chơi”.

Việt Nam đã có những bước đi đáng chú ý theo hướng đó. Tại Liên hợp quốc, Việt Nam từng chủ động thúc đẩy các vấn đề về phụ nữ, hòa bình và an ninh. Hay như trong đại dịch Covid-19, nước ta đã đưa ra những sáng kiến về đoàn kết toàn cầu ứng phó với dịch bệnh. Trong lĩnh vực biển, Việt Nam nhất quán đề cao UNCLOS 1982 - khuôn khổ pháp lý quốc tế điều chỉnh các hoạt động trên biển và đại dương - đồng thời thúc đẩy một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế. Đặc biệt, tháng 6/2026, việc Việt Nam lần đầu tiên có đại diện trúng cử Thẩm phán Tòa án Luật Biển Quốc tế, nhiệm kỳ 2026 - 2035, là một dấu mốc giàu ý nghĩa.

Thực tiễn cho chúng ta thấm thía hơn điều này: Cần phải bảo vệ lợi ích dân tộc và bảo vệ những nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế, đây không phải hai con đường đối nghịch. Đặt lợi ích dân tộc trong những giá trị chung của nhân loại chính là một cách bảo vệ lợi ích dân tộc bền vững hơn. Đối ngoại sáng tạo không thể tách rời sức mạnh quốc gia. Tiếng chiêng muốn vang xa, không chỉ cần một thân chiêng đủ lớn, mà còn cần chất đồng tốt, núm chiêng chuẩn và một bàn tay tài hoa biết đánh thức âm vang.

Tinh thần ấy được tiếp nối theo một chiều hướng mới: Từ lợi ích quốc gia - dân tộc vươn tới lợi ích chung của khu vực và thế giới; từ hội nhập để tranh thủ nguồn lực bên ngoài tiến tới hội nhập để cùng kiến tạo những nguồn lực phát triển mới. Và sâu xa hơn, đó là từ một Việt Nam ở khoảng giữa thế kỷ XX cần thế giới thừa nhận quyền độc lập của mình đến một Việt Nam có khả năng đóng góp những giá trị của mình cho thế giới. Việt Nam không chỉ lắng nghe, thấu hiểu, mà còn muốn trải lòng bằng tiếng nói và khả năng của mình, “Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa/ Thì tin yêu, ngay thẳng đón ta vào(thơ Nguyễn Khoa Điềm). Đó là một sự thay đổi lớn về tầm vóc quốc gia. Nhưng sự thay đổi ấy không phải là sự thay đổi căn cốt của một dân tộc, mà là sự phát triển từ chính những giá trị đã được xác lập từ mùa Thu năm 1945. Có lẽ đó chính là chiều sâu của một nền đối ngoại sáng tạo mang dấu ấn Việt Nam trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nếu năm 1945, “suy rộng ra” là tư duy của một dân tộc vừa thoát khỏi gông xiềng nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh mình, thì hôm nay, “kiến tạo” là tư duy của một đất nước đang chủ động góp phần tạo dựng những điều kiện quốc tế thuận lợi hơn cho chính mình và cho cộng đồng. Cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc được soi chiếu bởi chân lý giản dị mà lớn lao: Giữ vững lợi ích quốc gia-dân tộc, đồng thời đặt lợi ích ấy trong hòa bình, hợp tác và những giá trị chung của nhân loại.

Có thể bạn quan tâm

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.