Đằng sau tăng trưởng tín dụng “khủng”

Tăng trưởng tín dụng trong quý I/2025 đạt được con số ấn tượng. Nhưng rất nhiều doanh nghiệp vẫn không được hưởng lợi. Các chuyên gia cho rằng, mức tăng trưởng này chủ yếu phản ánh yếu tố kỹ thuật hơn là sự cải thiện thật sự trong khả năng tiếp cận của doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Ảnh: NAM ANH
Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Ảnh: NAM ANH

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2025 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Nguyễn Thị Hồng đã thông báo về tình hình tăng trưởng tín dụng. Cụ thể, tính đến hết quý I/2025, mức tăng trưởng tín dụng đạt 3,93%, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái (1,42%).

Tín dụng tăng, doanh nghiệp vẫn khó

Cũng trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I mới được Tổng cục Thống kê công bố, đến ngày 25/3/2025, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,49%. Đáng chú ý, theo số liệu từ NHNN công bố ngày 12/3, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế ước đạt 15,81 triệu tỷ đồng, với mức tăng 1,24%. Như vậy, đến hết tháng 3/2025, tăng trưởng tín dụng đã đạt 3,93%, tức là tín dụng đã tăng thêm 2,69% chỉ trong chưa đầy một tháng.

Mặc dù tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua ghi nhận kết quả khả quan, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Lý do chủ yếu: do thiếu tài sản thế chấp, thời gian thuê đất ngắn, thủ tục vay phức tạp và lãi suất cao. Một doanh nghiệp về giải pháp tài chính cho biết đã đầu tư gần 100 tỷ đồng vào hạ tầng công nghệ. Giai đoạn tiếp theo cần số vốn lớn, nên bắt buộc phải tìm đến ngân hàng. Doanh nghiệp chỉ có tài sản thế chấp là bất động sản, trị giá khoảng 3 tỷ đồng. Nếu theo đúng phương án của ngân hàng thì chỉ được vay 70% giá trị tài sản thế chấp, tương đương 2 tỷ đồng. Những hạ tầng công nghệ đã đầu tư không được ngân hàng thẩm định.

Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà-phê Ca-cao Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp trong ngành lương thực - thực phẩm luôn mong muốn những nguồn vốn lãi suất thấp. Tuy nhiên, hầu hết doanh nghiệp ngành này có quy mô nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, rất khó làm hồ sơ vay vốn.

Ông Nam chia sẻ thêm, các doanh nghiệp chăn nuôi thuê đất từ nông dân hoặc các lâm trường. Thời gian thuê đất thường chỉ từ một đến ba năm, không đủ dài để đáp ứng yêu cầu của ngân hàng. Hơn nữa, thời gian lập hồ sơ vay vốn thường kéo dài, khiến doanh nghiệp không đủ thời gian xoay vòng vốn.

Ngoài ra, các gói vay hỗ trợ lãi suất đã bị gián đoạn trong một thời gian dài, và khi được mở lại, các dự án cũ lại không được hỗ trợ. Khi tham gia các chương trình kích cầu, doanh nghiệp chỉ có thể vay vốn qua Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước TP Hồ Chí Minh (HFIC), quy trình thẩm duyệt rất khó khăn. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp chọn vay ngắn hạn từ các ngân hàng cho các dự án có thời gian đầu tư trung và dài hạn. Nếu chưa kịp xoay vòng vốn, rất có thể họ lại phải đi vay để trả nợ.

Chủ yếu vẫn mang tính kỹ thuật

Ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia kinh tế cho rằng, phần lớn tín dụng hiện nay chảy vào các doanh nghiệp lớn, có uy tín, hoặc các dự án bất động sản. Ngân hàng thường ưu tiên cho vay những khách hàng sở hữu tài sản thế chấp có giá trị cao và hồ sơ tín dụng tốt, điều này khiến các doanh nghiệp nhỏ, thiếu tài sản bảo đảm, gặp bất lợi lớn trong việc tiếp cận vốn.

Ông Huy cũng chỉ ra thực trạng, mặc dù lãi suất đã được điều chỉnh giảm ở một số thời điểm, nhưng điều kiện vay vốn của ngân hàng vẫn rất khắt khe. Theo đó, họ phải chứng minh khả năng tài chính vững mạnh, có kế hoạch kinh doanh rõ ràng và lợi nhuận ổn định. Tuy nhiên, sau giai đoạn khó khăn do đại dịch và biến động kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứng các tiêu chuẩn này. Kết quả là, mặc dù tín dụng có tăng trưởng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ điều kiện để tiếp cận nguồn vốn.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Hoài Linh, Trưởng phòng Nghiên cứu tại Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF), nhận định rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng “dồn dập” trong những tuần cuối quý I/2025 chủ yếu mang tính kỹ thuật. Điều này phản ánh thực tế là nhu cầu tín dụng hiện tại vẫn còn yếu, khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp vẫn ở mức thấp.

Nhìn lại lịch sử, tín dụng đã nhiều lần ghi nhận sự tăng trưởng bất thường vào các thời điểm quan trọng. Thí dụ, trong năm 2024, mỗi khi kết thúc quý, tín dụng lại “bật lên” và sau đó giảm dần vào đầu quý mới. Trong khi tín dụng tháng 1 và tháng 2 ghi nhận mức tăng trưởng âm, thì đến tháng 3 lại có sự đảo chiều. Tình trạng này lặp lại ở các quý tiếp theo.

Điều này dấy lên lo ngại về nguy cơ dòng tín dụng không được phân bổ đúng mục đích. Theo các chuyên gia, nếu tín dụng được bơm mạnh vào những lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản hay chứng khoán, hệ thống ngân hàng có thể phải đối mặt với những biến động lớn, kéo theo hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, dòng vốn dễ dàng "lệch pha", đi ngược lại với mục tiêu hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và phục hồi kinh tế mà nhà điều hành đang hướng tới.

Những lo ngại này được thể hiện rất rõ qua bức tranh nợ xấu của các ngân hàng. Cụ thể, báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tính đến cuối năm 2024, tổng nợ xấu đã tăng 17% so với đầu năm. Đặc biệt, nợ có khả năng mất vốn của các ngân hàng này đã tăng 43% so với năm 2023. Không chỉ tăng về giá trị tuyệt đối, tỷ trọng nợ nhóm 5 trên tổng dư nợ cho vay cũng đã tăng từ 0,91% vào cuối năm 2023 lên 1,11% vào cuối năm 2024.

Giới phân tích cho rằng, trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn với dòng vốn bởi dư địa để duy trì lãi vay thấp như vừa qua sẽ dần hạn chế, đặc biệt sau khi Mỹ công bố sẽ áp mức thuế quan 46% đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam.

Trước tình hình hiện tại, PGS, TS Nguyễn Hữu Huân nhận định, việc tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, và lãi suất khó có thể giảm thêm mà không gây áp lực lên tỷ giá. Thay vì tiếp tục nới lỏng tiền tệ, Việt Nam nên tập trung vào việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Đồng thời, chính sách tài khóa cần được phát huy như một công cụ chủ chốt để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và thực chất. Để tín dụng tăng trưởng một cách lành mạnh, không chỉ các ngân hàng cần mở rộng tín dụng, mà doanh nghiệp cũng phải chủ động nâng cao năng lực nội tại. Doanh nghiệp cần cải thiện hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tối ưu hóa dòng vốn và quản trị tài chính để sử dụng nguồn vốn vay một cách hiệu quả nhất.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh: NAM ANH

Giảm lãi suất, thúc đẩy kinh tế

Hàng loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay. Chi phí vốn hạ được kỳ vọng giúp doanh nghiệp bớt áp lực. Tuy nhiên, như vậy đã đủ để doanh nghiệp mạnh dạn vay thêm và mở rộng kinh doanh?

Từ đầu tháng 10, các phiên giảm điểm chiếm ưu thế áp đảo.

VN-Index lùi về vùng chọn lọc

Thị trường chứng khoán liên tục chịu nhiều sức ép khiến chỉ số VN-Index liên tục giảm điểm. Dù vậy, mức định giá của thị trường đã lùi về vùng hấp dẫn, mở ra cơ hội chọn lọc dài hạn cho nhà đầu tư.

Kết thúc phiên 14/10, VN-Index giảm 14,55 điểm, xuống 1.704,87 điểm. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất níu chân dòng tiền chứng khoán

Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm sau khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trong khi dòng vốn từ nâng hạng cần thời gian để giải ngân, lãi suất tiền gửi hấp dẫn và chi phí vay cao đang tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư.

Những doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực trả nợ một khi tỷ giá tăng. Ảnh: NAM ANH

Doanh nghiệp ứng phó với tỷ giá

Dù đối diện với những biến động phức tạp của kinh tế thế giới cùng xu hướng siết chặt chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn giữ vững đà ổn định nhờ sự điều hành chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.