Hình thành hệ sinh thái cho vật liệu xanh

Trong bối cảnh cả nước đang nỗ lực xanh hóa nền kinh tế, vật liệu xanh là một trong những giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, một số hạn chế trong chính sách đang cản trở sự phát triển của loại vật liệu tiềm năng này.

Gạch không nung góp phần bảo vệ môi trường (Ảnh: BỘ XÂY DỰNG)
Gạch không nung góp phần bảo vệ môi trường (Ảnh: BỘ XÂY DỰNG)

Theo Vụ Khoa học, Công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), trong cơ cấu đầu tư xây dựng, chi phí vật liệu xây dựng thường chiếm khoảng từ 55-65% tổng giá trị công trình. Hiện nay, Việt Nam đã hình thành ngành công nghiệp vật liệu xây dựng có quy mô lớn với năng lực sản xuất hàng đầu khu vực. Mỗi năm, cả nước sản xuất khoảng 125 triệu tấn xi-măng, 150 triệu m3 bê-tông, 11,7 triệu tấn thép xây dựng, 6,1 triệu tấn tôn mạ, 2,5 triệu tấn ống thép hàn, 840 triệu m² gạch ốp lát, 350 triệu m² kính xây dựng, hơn 40 tỷ viên gạch tiêu chuẩn, 26 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, 26 triệu m² đá ốp lát, 25 triệu tấn bê-tông nhựa asphalt cùng hàng trăm triệu m3 cát, đá xây dựng và nhiều loại vật liệu khác.

Những con số nêu trên cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của ngành vật liệu xây dựng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Không chỉ đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước, nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng của Việt Nam đã tham gia xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế. Mô hình phát triển truyền thống vẫn phụ thuộc đáng kể vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng nhiều năng lượng, mức phát thải cao khó đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe về bảo vệ môi trường. Việc sử dụng nguyên liệu thay thế, nhiên liệu thay thế và các loại vật liệu xanh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Thực tế đặt ra yêu cầu, ngành vật liệu xây dựng phải chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên công nghệ, đổi mới quản trị, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

Hiện nay, hoạt động quản lý và phát triển ngành vật liệu xây dựng được thực hiện trên cơ sở Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050; Luật Xây dựng số 135/2025/QH15; Nghị định số 09/2021/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng và Thông tư số 10/2024/TT-BXD. Tuy nhiên, trước những yêu cầu phát triển mới, nhiều quy định hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Cụ thể, việc phân loại và xây dựng danh mục vật liệu xây dựng chưa rõ ràng; cơ chế khuyến khích phát triển vật liệu mới, vật liệu thông minh, vật liệu phát thải thấp, vật liệu thích ứng với điều kiện ven biển, hải đảo còn chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu ngành vật liệu xây dựng theo hướng dùng chung, tích hợp và liên thông vẫn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh chuyển đổi số

Ngoài ra, các quy định về quản lý chất lượng sản phẩm, sử dụng chất thải làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện. Một số nội dung còn chưa đồng bộ với các quy định mới của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dẫn đến những khó khăn nhất định trong quá trình tổ chức thực hiện.

Theo các chuyên gia, trong giai đoạn tới, ngành vật liệu xây dựng cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, ổn định, minh bạch và bảo đảm môi trường. Định hướng là thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải trong toàn ngành.

Theo đó, ngành vật liệu xây dựng cần đẩy mạnh sử dụng nguyên liệu thay thế, nhiên liệu thay thế; tận dụng tro, xỉ, thạch cao, xỉ lò cao và các loại chất thải đủ điều kiện làm nguyên liệu sản xuất. Đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực lên tài nguyên khoáng sản mà còn góp phần xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Ngành cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc phát triển vật liệu xây không nung, vật liệu nhẹ, vật liệu tái chế, vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng và vật liệu thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, từng bước giảm các dây chuyền công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều tài nguyên và phát thải cao. Đây được xem là yêu cầu quan trọng để ngành vật liệu xây dựng thực hiện các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Một nội dung quan trọng khác là nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng. Công tác này cần được thực hiện thực chất hơn, dựa trên dữ liệu, ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc sản phẩm và tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý.

Ngành vật liệu xây dựng cần đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Doanh nghiệp cần đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất, làm chủ công nghệ, phát triển các loại vật liệu mới, vật liệu chức năng, vật liệu thông minh, vật liệu phục vụ công trình xanh, công trình ven biển, hải đảo và các công trình kỹ thuật cao.

Để hỗ trợ quá trình này, việc xây dựng hệ thống dữ liệu ngành và số hóa hoạt động quản trị sản xuất, quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc, logistics và quan trắc môi trường là những việc cần triển khai nhanh...

Theo Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, việc hoàn thiện chính sách pháp luật cho vật liệu xanh là yêu cầu cấp thiết đối với ngành xây dựng trong thời gian tới. Định hướng phát triển thị trường vật liệu xây dựng cần dựa trên việc nâng cao nội lực của doanh nghiệp, bảo đảm cân đối cung-cầu và tăng sức cạnh tranh quốc tế. Hoạt động xuất khẩu cần được định hướng theo hướng chọn lọc, bền vững, tránh phụ thuộc quá mức vào các sản phẩm tiêu hao nhiều tài nguyên nhưng giá trị gia tăng thấp.

Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo để từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong ngành vật liệu xây dựng. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu, cơ chế điều phối thông tin vật liệu xây dựng phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển minh bạch, bền vững của thị trường trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa. (Ảnh: BM)

Hướng tới net zero từ những cuộc họp

Mỗi cuộc họp, hội nghị hay hội thảo đều phát sinh khí nhà kính từ các điện năng, điều hòa không khí, đi lại, ăn uống, in ấn và hàng loạt vật dụng phục vụ sự kiện.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Các doanh nghiệp mang tới sự kiện các giải pháp vật liệu nhẹ và bền vững. (Ảnh: THÙY LINH)

Vật liệu xanh: Xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên Net Zero

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước bước chuyển mang tính lịch sử. Nếu trước đây giá thành, chất lượng và năng lực sản xuất là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh, thì nay hàm lượng vật liệu tái chế và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG đang trở thành tiêu chí quan trọng để ngành xây dựng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

VSCF 2026 đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi xanh của ngành xây dựng Việt Nam. (Ảnh: THÙY LINH)

Khai mạc Diễn đàn VSCF 2026 với chủ đề “Định hình Net Zero Việt Nam-Tái kiến tạo cho 2050”

Ngày 16/7, Diễn đàn phát triển bền vững ngành Xây dựng Việt Nam (VSCF 2026) chính thức trở lại tại Hà Nội, quy tụ các hiệp hội nghề, doanh nghiệp xây dựng-vật liệu-bất động sản, cùng các tổ chức tài chính, chuyên gia trong và ngoài nước, cùng nhau hướng tới mục tiêu kiến tạo tương lai bền vững cho ngành xây dựng Việt Nam.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Giảng viên và sinh viên Trường đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh bên bức tường bê-tông gai dầu.

Hướng đi mới cho ngành vật liệu xây dựng

Quá trình đô thị hóa với tốc độ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng. Trong khi các tài nguyên truyền thống như cát, đá chịu nhiều sức ép về sản lượng khai thác, thì hàng trăm nghìn tấn chất thải xây dựng mỗi ngày vẫn phải xử lý bằng cách san lấp, đổ bỏ.

Mô hình du lịch thích ứng thời tiết tại Tân Hóa, Quảng Trị là thí dụ tiêu biểu cho việc phát triển du lịch gắn với nâng cao khả năng chống chịu trước các thách thức môi trường. (Ảnh: TTXVN)

Thúc đẩy xây dựng mô hình du lịch xanh tuần hoàn

Du lịch tuần hoàn không dừng lại ở việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Xu thế mới này đòi hỏi tiến tới du lịch tái tạo, nơi mỗi hành trình của du khách đều để lại tác động tích cực, góp phần phục hồi tài nguyên, bảo tồn văn hóa, nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng và hiện thực hóa mục tiêu Net Zero toàn cầu.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Dốc Thẩm Mã luôn thu hút hành trình của mọi du khách đến thăm Tuyên Quang. (Ảnh: BẢO LONG)

Du lịch Việt Nam trên hành trình “xanh hóa”

Nếu trước đây, du lịch xanh chủ yếu được nhắc đến như một lựa chọn mang tính xu hướng, thì nay, nhiều địa phương, điểm đến, doanh nghiệp du lịch đã xác định đây là yêu cầu tự thân để tồn tại và nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này khiến hành trình “xanh hóa” du lịch Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đi vào thực chất.

Thành phố Hồ Chí Minh đặt lộ trình cụ thể đến năm 2030 đưa vào hoạt động phương tiện công cộng thân thiện với môi trường (Ảnh: THẾ ANH)

Chuyển đổi xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi phát triển với yêu cầu tăng trưởng không chỉ nhanh mà còn phải gắn với chất lượng môi trường và tính bền vững. Trong đó, chuyển đổi xanh là một trong những vấn đề quan trọng để tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế cả nước.

Tổng công ty Phát điện 1 làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chủ động đề xuất đầu tư các dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện tại địa phương.

Tổng công ty Phát điện 1 đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi tại Lâm Đồng

Với định hướng phát triển năng lượng tái tạo, tại cuộc làm việc tại tỉnh Lâm Đồng mới đây, Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) đã đề xuất đầu tư 3 dự án điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện đang hoạt động tại địa phương với tổng công suất gần 270MW, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. 

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Hà Nội áp dụng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội từ ngày 1/7/2026.

Người dân tích cực hưởng ứng thí điểm vùng phát thải thấp ở trung tâm Hà Nội

Từ ngày 1/7/2026, Hà Nội sẽ bắt đầu thí điểm vùng phát thải thấp tại một số tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm. Ngay trước thời điểm triển khai, ghi nhận cho thấy đông đảo người dân đã chủ động điều chỉnh thói quen đi lại, thể hiện sự đồng tình với chủ trương và bước đầu chuyển từ nhận thức sang hành động.