SỔ TAY KHOA HỌC:

Cơ hội cho mục tiêu Net Zero

Trong khi bài toán giảm phát thải nông nghiệp tập trung vào hạn chế khí metan trong canh tác lúa, một hướng đi khác đang mở ra từ một nghiên cứu mới đây tại đồng bằng sông Hồng do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (Nafosted) tài trợ, đó là đất nông nghiệp có thể trở thành “bể chứa” carbon hữu cơ quan trọng.

Hoạt động khoan lấy mẫu đất trồng cây lâu năm phục vụ nghiên cứu đề tài.
Hoạt động khoan lấy mẫu đất trồng cây lâu năm phục vụ nghiên cứu đề tài.

Nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chủ trì, đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xác định bể chứa các-bon hữu cơ trong đất vùng đồng bằng sông Hồng phục vụ giám sát chất lượng đất và phát thải khí nhà kính từ đất”.

Theo ông Tuấn, đất vừa là một dạng bể chứa, vừa là nguồn phát thải carbon trên cạn. Carbon hữu cơ trong đất chủ yếu hình thành từ các chất hữu cơ như lá rụng, rễ chết, vi sinh vật và lớp mùn đã phân hủy.

Đây là thành phần tạo nên độ phì của đất, giúp các hạt đất kết dính tốt hơn, giữ nước lâu hơn, đồng thời cung cấp dinh dưỡng và là nguồn thức ăn cho sinh vật trong đất. Đất giữ chất hữu cơ, giúp carbon hữu cơ nằm lại lâu dài thay vì bị phân hủy rồi bay vào khí quyển dưới dạng CO2 - loại khí góp phần làm Trái đất nóng lên.

Sở dĩ cần có số liệu carbon hữu cơ trong đất cho đồng bằng sông Hồng là bởi những năm qua, tài nguyên đất vùng này có sự biến động mạnh về diện tích và chất lượng do tác động của tự nhiên và con người như phát triển công nghiệp, đô thị, tình trạng rửa trôi, bạc màu, xâm nhập mặn, ngập úng… Các yếu tố này đã tác động đến khả năng lưu trữ carbon hữu cơ của đất.

Bởi vậy, nghiên cứu của nhóm tập trung xác định trữ lượng carbon hữu cơ để làm cơ sở theo dõi tăng, giảm qua các năm, cũng như đánh giá sự phân bố lượng theo không gian và các yếu tố ảnh hưởng. Từ đó, giúp cơ quan chức năng đề ra giải pháp làm tăng trữ lượng này trong đất, góp phần giảm phát thải khí nhà kính.

Kết quả nghiên cứu đã xác định bể chứa các-bon hữu cơ trong đất vùng đồng bằng sông Hồng một cách chi tiết, với bộ số liệu nền được thiết lập cho toàn vùng. Theo đó, trữ lượng đạt khoảng 35,68 tấn/ha ở tầng đất 0-20cm, 48,28 tấn/ha ở tầng 0-30cm và 97,02 tấn/ha trong lớp đất 0-1m.

Sự chênh lệch giữa các nhóm đất khá rõ rệt, đất xám bạc màu trên phù sa cổ chỉ đạt khoảng 74-87 tấn/ha, trong khi các nhóm đất mặn và đất phèn sâu ghi nhận mức cao hơn, từ 120 đến hơn 150 tấn/ha.

Các kết quả này tạo nên bộ dữ liệu đầu tiên khẳng định vùng đồng bằng sông Hồng có vai trò như một bể hấp thụ carbon hữu cơ tự nhiên.

Để đo nhanh hàm lượng carbon hữu cơ trong đất, nhóm nghiên cứu đã ứng dụng thành công kỹ thuật quang phổ dải khả kiến-cận hồng ngoại (VIS-NIR) kết hợp mô hình toán học, thay thế phương pháp phân tích hóa học truyền thống thường tốn kém và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

Nhóm sử dụng máy quang phổ cầm tay để quét phổ cho toàn bộ mẫu đất thu thập tại các tỉnh trong vùng. Tín hiệu phản xạ phổ ở dải 350-2.500nm được xử lý và đưa vào mô hình toán học để ước tính nhanh hàm lượng các-bon hữu cơ của từng mẫu.

Ở quy mô vùng, nhóm cũng lần đầu sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu viễn thám để lập bản đồ phân bố SOC tầng 0-20cm cho các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hưng Yên (cũ), tạo nền tảng cho công tác kiểm kê phát thải và tín chỉ carbon.

Bên cạnh đó, đề tài còn phát hiện một số chủng vi khuẩn và nấm có hoạt tính phân hủy hữu cơ mạnh, mở ra hướng nghiên cứu chế phẩm sinh học phục vụ tăng tích lũy carbon hữu cơ trong đất.

Từ các kết quả nghiên cứu, nhóm kiến nghị cần sớm xây dựng những cơ sở khoa học và chính sách hỗ trợ. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế và chính sách về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp theo hướng khuyến khích duy trì và phát triển các mô hình canh tác bền vững như nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, nông nghiệp xanh và thích ứng biến đổi khí hậu.

Đây là những hướng tiếp cận đã được chứng minh có khả năng nâng cao hàm lượng carbon hữu cơ trong đất, đồng thời giảm lượng khí nhà kính phát thải từ đồng ruộng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng lộ trình thử nghiệm và đánh giá các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng cường carbon hữu cơ trong đất cho từng hệ thống canh tác cụ thể, như lúa nước, cây rau, cây hoa màu, cây ăn quả.

Các mô hình thử nghiệm cần được triển khai cả ở quy mô ruộng hộ gia đình và ở quy mô lớn hơn để có thể đánh giá đầy đủ tính hiệu quả, khả năng nhân rộng và tác động tới năng suất.

Đề tài cũng đề xuất cần chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên dữ liệu về carbon hữu cơ trong đất, bao gồm số liệu theo tầng đất, loại đất và loại hình sử dụng đất; giúp cơ quan quản lý theo dõi biến động chất lượng đất và tạo điều kiện để tính toán tín chỉ carbon cho đất nông nghiệp, phục vụ thị trường tín chỉ trong tương lai.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của các giải pháp tổ chức thực hiện, như tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; đẩy mạnh tập huấn cho nông dân về các biện pháp canh tác giúp nâng cao hàm lượng carbon hữu cơ và huy động nguồn lực xã hội cho việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong phân tích và giám sát carbon đất, đặc biệt là công nghệ đo phổ ánh sáng và phương pháp học máy.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tuấn, khi thị trường tín chỉ carbon của nước ta đi vào hoạt động, các kết quả nghiên cứu góp phần thuận lợi cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp liên quan đến sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng tham gia, hưởng lợi từ các tín chỉ carbon được tạo ra. Xa hơn, góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050 của quốc gia và quốc tế trong sản xuất nông nghiệp.

Có thể bạn quan tâm

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…

Một trong những hoạt động tại Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN (ADGMIN) lần thứ 6.

Từ kết nối hạ tầng đến kết nối trí tuệ: ASEAN định hình trụ cột phát triển số

Hội nghị Bộ trưởng số ASEAN (ADGMIN) lần thứ 6, diễn ra tại Hà Nội từ ngày 12 đến 16/1 với chủ đề “ASEAN thích ứng: Từ kết nối hạ tầng đến kết nối trí tuệ”, là diễn đàn cấp cao để các quốc gia ASEAN cùng nhìn lại chặng đường chuyển đổi số đã qua, đồng thời định hình lộ trình và ưu tiên hợp tác cho giai đoạn tiếp theo.