Chuyển đổi tư duy để chủ động thích ứng

Ngập lụt đô thị đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm, kéo dài và khó giải quyết ở hầu hết các thành phố lớn của Việt Nam. Thời gian qua, dù hàng loạt dự án chống ngập được triển khai với vốn đầu tư lớn, nhưng tình trạng nước dâng ngập đường, nhà cửa, khiến giao thông tê liệt và đời sống người dân bị đảo lộn... vẫn tiếp diễn.

Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. (Ảnh: Xuân Ngọc)
Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. (Ảnh: Xuân Ngọc)

Căn nguyên của vấn đề này không đơn giản chỉ nằm ở lượng mưa ngày một tăng cao, mà sâu xa hơn là do tư duy quy hoạch, phát triển đô thị chưa gắn với quy luật thủy văn, trong khi hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, không đủ sức chống chịu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng hiện tượng sụt lún nền đất ngày một tăng mạnh ở một số nơi.

Sự cân bằng bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hóa ồ ạt

Thực tế cho thấy, hiện tượng ngập lụt trên diện rộng ở các đô thị đã không còn là sự cố nhất thời mà là thách thức mang tính cấu trúc, phản ánh những bất cập trong tư duy phát triển và quản trị đô thị hiện nay. Sự mở rộng nhanh chóng của các đô thị đã kéo theo hàng loạt thay đổi trong môi trường tự nhiên. Những vùng đất trũng, ao hồ, kênh rạch từng đóng vai trò là không gian trữ nước tự nhiên đã bị san lấp để xây nhà, làm đường hoặc phát triển khu công nghiệp.

Mặt khác, diện tích bề mặt bê-tông hóa tăng nhanh khiến khả năng thấm nước mặt của đất giảm mạnh. Mỗi khi mưa lớn, thay vì thấm dần xuống đất, nước mưa chảy tràn trên bề mặt và dồn nhanh vào hệ thống cống. Trong khi, hệ thống thoát nước của đô thị được xây dựng từ hàng chục năm trước, với tiết diện nhỏ, tần suất thiết kế thấp, không còn phù hợp điều kiện mưa cực đoan hiện nay.

Đơn cử tại Hà Nội, các tuyến cống chỉ đủ khả năng thoát nước với lượng mưa có cường độ 70-80 mm/giờ, trong khi các trận mưa gần đây thường đạt 120-150 mm/giờ. Tương tự, ở Thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn cống ngầm được xây dựng từ trước năm 2000, nay đã xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đoạn bị bùn lắng chiếm tới một nửa tiết diện. Khi lượng nước mưa tăng gấp đôi mà năng lực thoát nước không đổi, ngập lụt trở thành kết cục tất yếu.

Cùng với đó, quá trình đô thị hóa ồ ạt đã phá vỡ sự cân bằng hệ thống thoát nước tự nhiên. Việc nâng nền cục bộ ở từng khu dân cư, dự án hay tuyến đường khiến dòng chảy tự nhiên bị chia cắt, tạo ra các "bức tường ngăn nước" khiến khu vực thấp hơn bị dồn ngập. Tình trạng quy hoạch manh mún, thiếu phối hợp giữa các địa phương, các ngành xây dựng và nông nghiệp dẫn đến hệ thống tiêu thoát nước đô thị không liên kết theo lưu vực mà chỉ theo ranh giới hành chính. Khi mưa lớn xảy ra, nước từ khu vực này dồn sang khu vực khác, gây ngập chéo vùng và khiến việc kiểm soát trở nên khó khăn.

Ngập lụt đô thị không chỉ là câu chuyện của hạ tầng mà còn là vấn đề của khí hậu và địa chất. Những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất dày hơn, mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn, trong khi triều cường ngày càng cao và kéo dài. Nhiều đợt triều cao ở Thành phố Hồ Chí Minh vượt ngưỡng lịch sử 1,7m, khiến các tuyến cống thoát nước bị triều dội ngược, làm nước mưa không thể rút. Tại thành phố Cần Thơ, triều cường và mưa lớn thường trùng thời điểm, gây ngập trên diện rộng ngay cả ở khu vực mới nâng nền.

Nghiêm trọng hơn, nước biển dâng đang làm thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa đô thị và hệ thống sông ngòi ven biển. Theo các kịch bản khí hậu quốc gia, mực nước biển có thể dâng 30-50 cm vào giữa thế kỷ này. Đối với những thành phố có cao độ trung bình chỉ hơn mực nước biển 1-1,5m như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, hay Bạc Liêu, Hạ Long (cũ), chỉ cần mực nước tăng thêm vài chục cm là đủ khiến hàng loạt khu vực thấp trở thành vùng ngập triều quanh năm. Các cống thoát nước tự chảy vốn phụ thuộc vào chênh cao tự nhiên giữa mặt đất và sông rạch nay mất tác dụng, buộc phải lắp trạm bơm cưỡng bức. Nhưng vận hành trạm bơm trong điều kiện triều dâng và mưa lớn cùng lúc rất tốn kém, khó đạt hiệu quả bền vững.

Đi kèm với nước biển dâng là hiện tượng sụt lún nền đất, một nguy cơ âm thầm nhưng vô cùng nghiêm trọng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tốc độ lún ở Thành phố Hồ Chí Minh đạt trung bình 1,5-2,5 cm/năm, có nơi vượt 4 cm, chủ yếu do khai thác nước ngầm quá mức và tải trọng xây dựng. Chỉ trong hai thập kỷ, mặt đất tại một số khu vực đã hạ thấp hơn 40 cm so cao độ ban đầu. Khi nền đất hạ dần trong khi mực nước triều lại tăng, sự chênh lệch này làm cho nguy cơ ngập trở nên thường trực vì không thể xác định chính xác cao độ chuẩn. Nếu không kiểm soát khai thác nước ngầm và xây dựng cơ chế theo dõi lún định kỳ, mọi công trình chống ngập đều sẽ nhanh chóng lạc hậu…

Sớm hình thành tư duy sống hài hòa với nước

Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng khốc liệt, đô thị Việt Nam cần chuyển từ thế bị động sang chủ động thích ứng. Đó là hành trình dài, đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp, ngành, sự đồng hành của cộng đồng và tư duy phát triển mới, tư duy sống hài hòa với nước, coi nước là nguồn sống chứ không phải mối họa. Do đó, bên cạnh các giải pháp kỹ thuật như đã nói ở trên, yếu tố con người và thể chế đóng vai trò then chốt trong cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa quy hoạch, xây dựng, tài nguyên, môi trường và nông nghiệp.

Về thể chế, hệ thống thoát nước đô thị cần được coi là hạ tầng chiến lược, có cơ quan điều phối chuyên trách thay vì phân tán cho nhiều đơn vị. Cần luật hóa các quy định về quy hoạch, đầu tư và vận hành dựa trên tầm nhìn dài hạn, vượt khỏi giới hạn của nhiệm kỳ và địa giới hành chính.

Về con người, cần phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý thoát nước đô thị. Mỗi người dân đều là một thành tố quan trọng trong toàn trình của hệ thống thoát nước, bởi chỉ cần một hành vi xả rác xuống cống cũng có thể làm tắc cả tuyến. Chỉ khi chu trình này được vận hành trôi chảy mới có thể hình thành văn hóa đô thị sống hài hòa với nước và các giải pháp kỹ thuật mới có thể phát huy hiệu quả bền vững.

Một yếu tố quan trọng khác là tài chính. Đầu tư cho thoát nước đòi hỏi nguồn vốn lớn và dài hạn, nên cần huy động nguồn lực xã hội. Hình thức hợp tác công-tư có thể được áp dụng trong các dự án hồ điều hòa, công viên sinh thái, trạm bơm hoặc hệ thống quan trắc ngập. Khi có cơ chế minh bạch, lợi ích rõ ràng, doanh nghiệp sẽ sẵn sàng tham gia.

Trong dài hạn, quy hoạch phát triển đô thị phải được định hướng trên nền tảng thích ứng khí hậu. Mỗi đô thị cần xác định ranh giới vùng dễ ngập, vùng lún, vùng chịu ảnh hưởng để có chiến lược phát triển phù hợp. Những khu vực thấp, gần sông nên hạn chế mật độ xây dựng, ưu tiên làm không gian xanh hoặc công trình có khả năng chịu ngập. Những khu vực có nền đất yếu cần kiểm soát tải trọng công trình, giảm khai thác nước ngầm. Cách tiếp cận này đòi hỏi tầm nhìn hệ thống, gắn quy hoạch không gian với quy hoạch thủy văn, địa chất và khí hậu.

Những gợi mở về một chiến lược tổng thể

Trên khắp cả nước, phần lớn các công trình thủy lợi được xây dựng với tuổi thọ thiết kế dưới 50 năm và thiếu tính gắn kết bắt buộc với kịch bản nước biển dâng hoặc sụt lún cực đoan, dẫn tới hiệu quả nhanh chóng suy giảm. Hơn thế, ở một số khu vực, cao độ miệng cống thoát nước hiện thấp hơn mực triều trung bình. Khi triều dâng, nước không thoát mà còn dội ngược vào nội đô. Đây là biểu hiện rõ nhất của sự thiếu tính thích ứng trong quy hoạch và quản lý hạ tầng. Để ứng phó với ngập lụt đô thị trong bối cảnh hiện nay, không thể chỉ dựa vào các công trình đơn lẻ, mà cần một chiến lược tổng thể dựa trên tư duy tích hợp giữa quy hoạch đô thị, thủy lợi và thích ứng khí hậu.

Thứ nhất, quy hoạch đô thị phải gắn chặt với quy hoạch thoát nước và quy hoạch lưu vực. Mỗi đồ án phát triển mới cần có đánh giá thủy văn, thủy lực, mô phỏng ngập cho các kịch bản mưa, triều cường, nước biển dâng và lún nền trong khoảng 50 năm tới. Chỉ khi hiểu rõ dòng chảy và rủi ro, mới có thể xác định vị trí hợp lý cho khu dân cư, công viên, hồ điều hòa và hành lang thoát nước. Bất kỳ dự án nào san lấp kênh rạch hay thay đổi địa hình đều phải được đánh giá tác động ngập một cách bắt buộc, tương tự như đánh giá môi trường chiến lược.

Thứ hai, cần nâng cấp toàn diện hệ thống thoát nước hiện có theo hướng thông minh, linh hoạt. Việc nâng cấp không chỉ là mở rộng cống hay tăng công suất bơm, mà là tái cấu trúc toàn mạng lưới theo nguyên tắc lưu vực khép kín. Các cống chính phải được kết nối với hồ điều hòa, trạm bơm và cống ngăn triều trong một hệ thống điều khiển thống nhất, thay vì bị động chờ khi ngập mới xử lý.

Thứ ba, hạ tầng thoát nước phải được kết hợp với hạ tầng xanh, hạ tầng tự nhiên. Không gian cho nước cần được trả lại trong đô thị bằng các hồ điều hòa, công viên ngập nước, mặt đường, vỉa hè thấm nước và cần có giải pháp thu, trữ cũng như tái sử dụng nước mưa tại chỗ. Đô thị cần phát triển theo mô hình đô thị thấm nước, khi đó mưa sẽ không còn bị xem là gánh nặng mà trở thành nguồn tài nguyên tái tạo.

Thứ tư, cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác nước ngầm để giảm sụt lún. Cấp nước đô thị nên chuyển dần sang sử dụng hoàn toàn nguồn nước mặt, xây dựng mạng lưới quan trắc lún và cập nhật bản đồ cao độ đô thị định kỳ. Việc xác định lại cao độ chuẩn kỹ thuật là điều bắt buộc để bảo đảm các công trình chống ngập mới có thể đáp ứng trong điều kiện thực tế, kịp thời xem xét điều chỉnh cốt nền quy hoạch bảo đảm chênh cao tối thiểu so mực nước triều cao nhất.

Thứ năm, quản lý và vận hành hạ tầng đô thị phải được hiện đại hóa. Mỗi đô thị nên xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về hệ thống cống, kênh, hồ, trạm bơm, bao gồm vị trí, kích thước, tình trạng và lịch sử bảo trì được giám sát bằng công nghệ. Khi mọi thông tin được số hóa và kết nối, việc điều hành sẽ nhanh, chính xác và tiết kiệm hơn nhiều so cách làm rời rạc hiện nay.

Ngập lụt đô thị, theo nhận thức chung của giới nghiên cứu là hệ quả tổng hợp của tự nhiên và con người, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn lại mô hình phát triển hiện tại. Theo đó, nên xem nước là yếu tố kiến tạo chứ không phải kẻ thù. Chỉ khi quy hoạch và thủy lợi cùng hướng về một mục tiêu trên cơ sở tôn trọng dòng chảy tự nhiên và người dân được đặt ở trung tâm của hoạt động quản trị nước, thì bài toán ngập lụt mới có thể dần được giải quyết căn cơ. Nhờ đó, các đô thị Việt Nam sẽ không còn mãi loay hoay trong vòng luẩn quẩn "ngập - nâng nền - lại ngập" mà có thể vững vàng hướng tới một tương lai an toàn, linh hoạt và bền vững■

Có thể thấy năng lực hạ tầng đô thị hiện nay không chỉ yếu mà còn thiếu khả năng thích ứng. Quy mô thiết kế nhỏ, kết cấu mạng lưới thiếu liên kết, công tác duy tu không thường xuyên, dữ liệu quản lý thiếu đồng bộ, và đặc biệt là chưa tính đến yếu tố biến đổi khí hậu trong quy hoạch kỹ thuật.

Có thể bạn quan tâm

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.