Chuyển đổi tư duy để chủ động thích ứng

Ngập lụt đô thị đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm, kéo dài và khó giải quyết ở hầu hết các thành phố lớn của Việt Nam. Thời gian qua, dù hàng loạt dự án chống ngập được triển khai với vốn đầu tư lớn, nhưng tình trạng nước dâng ngập đường, nhà cửa, khiến giao thông tê liệt và đời sống người dân bị đảo lộn... vẫn tiếp diễn.

Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. (Ảnh: Xuân Ngọc)
Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. (Ảnh: Xuân Ngọc)

Căn nguyên của vấn đề này không đơn giản chỉ nằm ở lượng mưa ngày một tăng cao, mà sâu xa hơn là do tư duy quy hoạch, phát triển đô thị chưa gắn với quy luật thủy văn, trong khi hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, không đủ sức chống chịu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng hiện tượng sụt lún nền đất ngày một tăng mạnh ở một số nơi.

Sự cân bằng bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hóa ồ ạt

Thực tế cho thấy, hiện tượng ngập lụt trên diện rộng ở các đô thị đã không còn là sự cố nhất thời mà là thách thức mang tính cấu trúc, phản ánh những bất cập trong tư duy phát triển và quản trị đô thị hiện nay. Sự mở rộng nhanh chóng của các đô thị đã kéo theo hàng loạt thay đổi trong môi trường tự nhiên. Những vùng đất trũng, ao hồ, kênh rạch từng đóng vai trò là không gian trữ nước tự nhiên đã bị san lấp để xây nhà, làm đường hoặc phát triển khu công nghiệp.

Mặt khác, diện tích bề mặt bê-tông hóa tăng nhanh khiến khả năng thấm nước mặt của đất giảm mạnh. Mỗi khi mưa lớn, thay vì thấm dần xuống đất, nước mưa chảy tràn trên bề mặt và dồn nhanh vào hệ thống cống. Trong khi, hệ thống thoát nước của đô thị được xây dựng từ hàng chục năm trước, với tiết diện nhỏ, tần suất thiết kế thấp, không còn phù hợp điều kiện mưa cực đoan hiện nay.

Đơn cử tại Hà Nội, các tuyến cống chỉ đủ khả năng thoát nước với lượng mưa có cường độ 70-80 mm/giờ, trong khi các trận mưa gần đây thường đạt 120-150 mm/giờ. Tương tự, ở Thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn cống ngầm được xây dựng từ trước năm 2000, nay đã xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đoạn bị bùn lắng chiếm tới một nửa tiết diện. Khi lượng nước mưa tăng gấp đôi mà năng lực thoát nước không đổi, ngập lụt trở thành kết cục tất yếu.

Cùng với đó, quá trình đô thị hóa ồ ạt đã phá vỡ sự cân bằng hệ thống thoát nước tự nhiên. Việc nâng nền cục bộ ở từng khu dân cư, dự án hay tuyến đường khiến dòng chảy tự nhiên bị chia cắt, tạo ra các "bức tường ngăn nước" khiến khu vực thấp hơn bị dồn ngập. Tình trạng quy hoạch manh mún, thiếu phối hợp giữa các địa phương, các ngành xây dựng và nông nghiệp dẫn đến hệ thống tiêu thoát nước đô thị không liên kết theo lưu vực mà chỉ theo ranh giới hành chính. Khi mưa lớn xảy ra, nước từ khu vực này dồn sang khu vực khác, gây ngập chéo vùng và khiến việc kiểm soát trở nên khó khăn.

Ngập lụt đô thị không chỉ là câu chuyện của hạ tầng mà còn là vấn đề của khí hậu và địa chất. Những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất dày hơn, mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn, trong khi triều cường ngày càng cao và kéo dài. Nhiều đợt triều cao ở Thành phố Hồ Chí Minh vượt ngưỡng lịch sử 1,7m, khiến các tuyến cống thoát nước bị triều dội ngược, làm nước mưa không thể rút. Tại thành phố Cần Thơ, triều cường và mưa lớn thường trùng thời điểm, gây ngập trên diện rộng ngay cả ở khu vực mới nâng nền.

Nghiêm trọng hơn, nước biển dâng đang làm thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa đô thị và hệ thống sông ngòi ven biển. Theo các kịch bản khí hậu quốc gia, mực nước biển có thể dâng 30-50 cm vào giữa thế kỷ này. Đối với những thành phố có cao độ trung bình chỉ hơn mực nước biển 1-1,5m như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, hay Bạc Liêu, Hạ Long (cũ), chỉ cần mực nước tăng thêm vài chục cm là đủ khiến hàng loạt khu vực thấp trở thành vùng ngập triều quanh năm. Các cống thoát nước tự chảy vốn phụ thuộc vào chênh cao tự nhiên giữa mặt đất và sông rạch nay mất tác dụng, buộc phải lắp trạm bơm cưỡng bức. Nhưng vận hành trạm bơm trong điều kiện triều dâng và mưa lớn cùng lúc rất tốn kém, khó đạt hiệu quả bền vững.

Đi kèm với nước biển dâng là hiện tượng sụt lún nền đất, một nguy cơ âm thầm nhưng vô cùng nghiêm trọng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tốc độ lún ở Thành phố Hồ Chí Minh đạt trung bình 1,5-2,5 cm/năm, có nơi vượt 4 cm, chủ yếu do khai thác nước ngầm quá mức và tải trọng xây dựng. Chỉ trong hai thập kỷ, mặt đất tại một số khu vực đã hạ thấp hơn 40 cm so cao độ ban đầu. Khi nền đất hạ dần trong khi mực nước triều lại tăng, sự chênh lệch này làm cho nguy cơ ngập trở nên thường trực vì không thể xác định chính xác cao độ chuẩn. Nếu không kiểm soát khai thác nước ngầm và xây dựng cơ chế theo dõi lún định kỳ, mọi công trình chống ngập đều sẽ nhanh chóng lạc hậu…

Sớm hình thành tư duy sống hài hòa với nước

Ứng phó ngập lụt đô thị không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là thước đo năng lực quản trị và tầm nhìn phát triển quốc gia. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng khốc liệt, đô thị Việt Nam cần chuyển từ thế bị động sang chủ động thích ứng. Đó là hành trình dài, đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp, ngành, sự đồng hành của cộng đồng và tư duy phát triển mới, tư duy sống hài hòa với nước, coi nước là nguồn sống chứ không phải mối họa. Do đó, bên cạnh các giải pháp kỹ thuật như đã nói ở trên, yếu tố con người và thể chế đóng vai trò then chốt trong cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa quy hoạch, xây dựng, tài nguyên, môi trường và nông nghiệp.

Về thể chế, hệ thống thoát nước đô thị cần được coi là hạ tầng chiến lược, có cơ quan điều phối chuyên trách thay vì phân tán cho nhiều đơn vị. Cần luật hóa các quy định về quy hoạch, đầu tư và vận hành dựa trên tầm nhìn dài hạn, vượt khỏi giới hạn của nhiệm kỳ và địa giới hành chính.

Về con người, cần phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý thoát nước đô thị. Mỗi người dân đều là một thành tố quan trọng trong toàn trình của hệ thống thoát nước, bởi chỉ cần một hành vi xả rác xuống cống cũng có thể làm tắc cả tuyến. Chỉ khi chu trình này được vận hành trôi chảy mới có thể hình thành văn hóa đô thị sống hài hòa với nước và các giải pháp kỹ thuật mới có thể phát huy hiệu quả bền vững.

Một yếu tố quan trọng khác là tài chính. Đầu tư cho thoát nước đòi hỏi nguồn vốn lớn và dài hạn, nên cần huy động nguồn lực xã hội. Hình thức hợp tác công-tư có thể được áp dụng trong các dự án hồ điều hòa, công viên sinh thái, trạm bơm hoặc hệ thống quan trắc ngập. Khi có cơ chế minh bạch, lợi ích rõ ràng, doanh nghiệp sẽ sẵn sàng tham gia.

Trong dài hạn, quy hoạch phát triển đô thị phải được định hướng trên nền tảng thích ứng khí hậu. Mỗi đô thị cần xác định ranh giới vùng dễ ngập, vùng lún, vùng chịu ảnh hưởng để có chiến lược phát triển phù hợp. Những khu vực thấp, gần sông nên hạn chế mật độ xây dựng, ưu tiên làm không gian xanh hoặc công trình có khả năng chịu ngập. Những khu vực có nền đất yếu cần kiểm soát tải trọng công trình, giảm khai thác nước ngầm. Cách tiếp cận này đòi hỏi tầm nhìn hệ thống, gắn quy hoạch không gian với quy hoạch thủy văn, địa chất và khí hậu.

Những gợi mở về một chiến lược tổng thể

Trên khắp cả nước, phần lớn các công trình thủy lợi được xây dựng với tuổi thọ thiết kế dưới 50 năm và thiếu tính gắn kết bắt buộc với kịch bản nước biển dâng hoặc sụt lún cực đoan, dẫn tới hiệu quả nhanh chóng suy giảm. Hơn thế, ở một số khu vực, cao độ miệng cống thoát nước hiện thấp hơn mực triều trung bình. Khi triều dâng, nước không thoát mà còn dội ngược vào nội đô. Đây là biểu hiện rõ nhất của sự thiếu tính thích ứng trong quy hoạch và quản lý hạ tầng. Để ứng phó với ngập lụt đô thị trong bối cảnh hiện nay, không thể chỉ dựa vào các công trình đơn lẻ, mà cần một chiến lược tổng thể dựa trên tư duy tích hợp giữa quy hoạch đô thị, thủy lợi và thích ứng khí hậu.

Thứ nhất, quy hoạch đô thị phải gắn chặt với quy hoạch thoát nước và quy hoạch lưu vực. Mỗi đồ án phát triển mới cần có đánh giá thủy văn, thủy lực, mô phỏng ngập cho các kịch bản mưa, triều cường, nước biển dâng và lún nền trong khoảng 50 năm tới. Chỉ khi hiểu rõ dòng chảy và rủi ro, mới có thể xác định vị trí hợp lý cho khu dân cư, công viên, hồ điều hòa và hành lang thoát nước. Bất kỳ dự án nào san lấp kênh rạch hay thay đổi địa hình đều phải được đánh giá tác động ngập một cách bắt buộc, tương tự như đánh giá môi trường chiến lược.

Thứ hai, cần nâng cấp toàn diện hệ thống thoát nước hiện có theo hướng thông minh, linh hoạt. Việc nâng cấp không chỉ là mở rộng cống hay tăng công suất bơm, mà là tái cấu trúc toàn mạng lưới theo nguyên tắc lưu vực khép kín. Các cống chính phải được kết nối với hồ điều hòa, trạm bơm và cống ngăn triều trong một hệ thống điều khiển thống nhất, thay vì bị động chờ khi ngập mới xử lý.

Thứ ba, hạ tầng thoát nước phải được kết hợp với hạ tầng xanh, hạ tầng tự nhiên. Không gian cho nước cần được trả lại trong đô thị bằng các hồ điều hòa, công viên ngập nước, mặt đường, vỉa hè thấm nước và cần có giải pháp thu, trữ cũng như tái sử dụng nước mưa tại chỗ. Đô thị cần phát triển theo mô hình đô thị thấm nước, khi đó mưa sẽ không còn bị xem là gánh nặng mà trở thành nguồn tài nguyên tái tạo.

Thứ tư, cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác nước ngầm để giảm sụt lún. Cấp nước đô thị nên chuyển dần sang sử dụng hoàn toàn nguồn nước mặt, xây dựng mạng lưới quan trắc lún và cập nhật bản đồ cao độ đô thị định kỳ. Việc xác định lại cao độ chuẩn kỹ thuật là điều bắt buộc để bảo đảm các công trình chống ngập mới có thể đáp ứng trong điều kiện thực tế, kịp thời xem xét điều chỉnh cốt nền quy hoạch bảo đảm chênh cao tối thiểu so mực nước triều cao nhất.

Thứ năm, quản lý và vận hành hạ tầng đô thị phải được hiện đại hóa. Mỗi đô thị nên xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về hệ thống cống, kênh, hồ, trạm bơm, bao gồm vị trí, kích thước, tình trạng và lịch sử bảo trì được giám sát bằng công nghệ. Khi mọi thông tin được số hóa và kết nối, việc điều hành sẽ nhanh, chính xác và tiết kiệm hơn nhiều so cách làm rời rạc hiện nay.

Ngập lụt đô thị, theo nhận thức chung của giới nghiên cứu là hệ quả tổng hợp của tự nhiên và con người, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn lại mô hình phát triển hiện tại. Theo đó, nên xem nước là yếu tố kiến tạo chứ không phải kẻ thù. Chỉ khi quy hoạch và thủy lợi cùng hướng về một mục tiêu trên cơ sở tôn trọng dòng chảy tự nhiên và người dân được đặt ở trung tâm của hoạt động quản trị nước, thì bài toán ngập lụt mới có thể dần được giải quyết căn cơ. Nhờ đó, các đô thị Việt Nam sẽ không còn mãi loay hoay trong vòng luẩn quẩn "ngập - nâng nền - lại ngập" mà có thể vững vàng hướng tới một tương lai an toàn, linh hoạt và bền vững■

Có thể thấy năng lực hạ tầng đô thị hiện nay không chỉ yếu mà còn thiếu khả năng thích ứng. Quy mô thiết kế nhỏ, kết cấu mạng lưới thiếu liên kết, công tác duy tu không thường xuyên, dữ liệu quản lý thiếu đồng bộ, và đặc biệt là chưa tính đến yếu tố biến đổi khí hậu trong quy hoạch kỹ thuật.

Có thể bạn quan tâm

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.