Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.
Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Với doanh nghiệp, đây còn là trần tín nhiệm, bởi khi quốc gia xếp hạng tín nhiệm thấp thì họ cũng khó vay được vốn rẻ.

Việt Nam còn đứng ngoài “dòng vốn khổng lồ” của thế giới

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đang có nhu cầu huy động vốn quốc tế. Đơn cử, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã BSR) đang có kế hoạch huy động vốn quốc tế. Hay mới đây, Tập đoàn Vingroup cũng đang xúc tiến đợt phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 350 triệu USD, có mệnh giá 200.000 USD/trái phiếu. Lãi suất danh nghĩa dự kiến tối đa 5,75%/năm, kỳ hạn 5 năm kể từ ngày phát hành. Đây là trái phiếu phát hành bằng đồng USD ra thị trường quốc tế, không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và xác định nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của tổ chức phát hành.

Theo ông Nguyễn Chí Thành, Chủ tịch Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), nhu cầu huy động các nguồn lực vốn lớn cả trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển mới là cực lớn.

Tuy nhiên, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết. Ông Nguyễn Quang Thuân, Tổng Giám đốc Finn Group, thẳng thắn nhận định: Điều đáng tiếc nhất là doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp cận nguồn vốn quốc tế với mức chi phí cao hơn đáng kể so nhiều quốc gia trong khu vực.

Ở góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ PVI AM (PVI Asset Management) Trịnh Quỳnh Giao chỉ ra: Giá vốn đắt đỏ, kỳ hạn ngắn là nút thắt đối với các khoản vay quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam, so các doanh nghiệp trong khu vực. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi phát hành trái phiếu quốc tế phải chấp nhận mức lãi suất lên tới 7 - 8%/năm. Con số này cao hơn đáng kể so các doanh nghiệp tại Indonesia hay Philippines, nơi chi phí vốn chỉ dao động quanh 3 - 4%/năm.

Thực tế này không chỉ là câu chuyện của riêng từng doanh nghiệp, mà phản ánh một vấn đề mang tính hệ thống. Chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư và kéo dài chu kỳ tích lũy. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030, cần huy động các nguồn lực lớn cả trong và ngoài nước, bài toán hạ chi phí vốn càng trở nên cấp thiết.

Hiện tại, xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đang ở mức BB+, theo S&P Global, thấp hơn một bậc so ngưỡng “Đầu tư” (Investment Grade). Đây là một ranh giới quan trọng, bởi phần lớn các quỹ đầu tư lớn trên thế giới, nhất là quỹ hưu trí, bảo hiểm, chỉ được phép đầu tư vào các quốc gia đạt mức tối thiểu BBB-. Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam đang đứng ngoài một “dòng vốn khổng lồ” của thế giới. Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Trịnh Quỳnh Giao cho rằng: Mỗi lần một quốc gia được nâng hạng tín nhiệm, mặt bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp thường giảm đáng kể. Không chỉ Chính phủ tiết kiệm được chi phí vay nợ, mà doanh nghiệp cũng được hưởng lợi trực tiếp từ chi phí vốn thấp hơn, kỳ hạn vay dài hơn và khả năng tiếp cận nhà đầu tư đa dạng hơn.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Thuân đánh giá: Thực tế đang đặt ra nhu cầu cần thiết phát triển kênh vốn nợ (trái phiếu) nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều quan trọng không kém nâng hạng thị trường chứng khoán, thậm chí có ý nghĩa kinh tế hơn là việc nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Việc nâng hạng được thực hiện sớm hơn sẽ góp phần tạo thuận lợi cho việc huy động vốn nợ của Chính phủ và doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, thu hút dòng vốn ngoại vào thị trường cổ phiếu; giảm chi phí tài chính liên quan hoạt động tài trợ thương mại xuất nhập khẩu.

Nâng cao khả năng hấp thụ, tận dụng hiệu quả nguồn lực

Trong giai đoạn 2026-2030, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, dự kiến tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước của Việt Nam là 8,22 triệu tỷ đồng, gồm: Ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ đồng, ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng là phù hợp kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030. Riêng năm 2026, theo Quyết định số 352/QĐ-TTg, kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm: Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 583.700 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng; Vay về cho vay lại là khoảng 10.092 tỷ đồng. Về kế hoạch cân đối trả nợ của Chính phủ, dự kiến khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, đánh giá: Nghị định số 119 giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án, đồng thời nâng cao tính chủ động của các cơ quan thực hiện trong tiếp cận và triển khai nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây mới là một bước tiến trong cả quá trình cải cách dài hạn.

Riêng với tình trạng một số địa phương “trả lại vốn” ODA trong thời gian qua, ông Nguyễn Bá Hùng phân tích: Cần được hiểu đúng, bởi phần lớn đây là vấn đề kỹ thuật liên quan tiến độ giải ngân hằng năm, hoặc một số đơn vị thấy rằng quy trình ODA phức tạp, triển khai chậm, nên cân nhắc chuyển sang sử dụng nguồn vốn khác như ngân sách trong nước - lựa chọn mà nếu không giải ngân kịp, các đơn vị có thể trả lại phần chưa sử dụng và sẽ đăng ký lại vào năm sau khi có tiến độ tốt hơn. Vì vậy, việc trả lại vốn không đồng nghĩa với việc hủy dự án. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: Trong tương lai, rủi ro sẽ lớn hơn khi các khoản vay ngày càng ít ưu đãi và có thể phát sinh phí cam kết. Nếu giải ngân chậm, vẫn phải trả phí, làm giảm hiệu quả dự án. Do đó, vấn đề cốt lõi là năng lực thực hiện.

“Chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ triển khai để nâng cao khả năng hấp thụ vốn và tận dụng hiệu quả nguồn lực từ các nhà tài trợ”, ông Hùng khẳng định.

Cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột

Với Việt Nam, mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư” trước năm 2030 không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, mà là đòn bẩy chiến lược để giảm chi phí vốn cho toàn nền kinh tế. Điều đáng nói là nhiều chỉ số vĩ mô của Việt Nam hiện không hề thua kém các quốc gia trong khu vực. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) duy trì ở mức cao, nợ công được kiểm soát ở khoảng 33-40% GDP, dự trữ ngoại hối cải thiện đáng kể và môi trường chính trị ổn định.

Chính vì vậy, giới chuyên gia tài chính có chung nhận định: Để giải bài toán chi phí vốn, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột. Dẫn lại những buổi làm việc với chuyên gia phân tích và báo cáo xếp hạng của các hãng như: S&P Global, Moody’s, FitchRating, ông Nguyễn Quang Thuân cho biết: Họ thể hiện sự quan tâm, đặt nhiều câu hỏi, bình luận liên quan những vấn đề như hiệu quả thể chế và quản trị, hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ, chỉ số quản trị tổng hợp, độ tin cậy và hiệu quả của chính sách tiền tệ, khuynh hướng lạm phát… Đây là những điểm Việt Nam cần lưu ý cải thiện hoặc chủ động đối thoại làm rõ.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Việt Nam có thể gia tăng sức mạnh thể chế kinh tế ở việc cải thiện tính có thể dự báo và tính minh bạch về chính sách tài chính-tiền tệ; tính ổn định của hệ thống tài chính, trong đó có vai trò của thị trường vốn; vị thế dự trữ ngoại hối, sức khỏe hệ thống ngân hàng thông qua tăng cường bộ đệm vốn và chất lượng tài sản và phát triển thị trường vốn; công bố thông tin ra bên ngoài tiệm cận và phù hợp thông lệ quốc tế và phổ biến dữ liệu, cải thiện các chỉ số quản trị. Theo báo cáo đánh giá do Nhóm chuyên gia của PVI AM thực hiện, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đang nhìn vào những yếu tố sâu hơn, mang tính cấu trúc của thị trường vốn, như: chất lượng thể chế và quản trị; “sức khỏe” của hệ thống tài chính; độ sâu của thị trường vốn…

Các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines hay Malaysia đều đã đạt mức xếp hạng “Đầu tư” từ nhiều năm trước. Điều đáng nói, họ không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn kiên trì cải cách thể chế và nâng cao chất lượng thị trường tài chính. Kết quả là chi phí vốn giảm rõ rệt, khả năng huy động vốn quốc tế cải thiện đáng kể - điều rất đáng để học hỏi và chiêm nghiệm ■

Trong giai đoạn 2026-2030, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có thể tài trợ khoảng 12 tỷ USD cho Việt Nam, bao gồm cả các khoản vay dự án và hỗ trợ ngân sách. Đây mới là mức tham vấn ban đầu. Thực tế, ADB hoàn toàn có đủ năng lực để tăng quy mô hỗ trợ, tùy thuộc vào nhu cầu vốn của Việt Nam và tiến độ triển khai dự án. Nếu các dự án được thực hiện nhanh, hiệu quả, nhất là các dự án quy mô lớn, có tác động lan tỏa cao, khả năng huy động thêm vốn là hoàn toàn khả thi.

Có thể bạn quan tâm

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).