Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.
Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Với doanh nghiệp, đây còn là trần tín nhiệm, bởi khi quốc gia xếp hạng tín nhiệm thấp thì họ cũng khó vay được vốn rẻ.

Việt Nam còn đứng ngoài “dòng vốn khổng lồ” của thế giới

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đang có nhu cầu huy động vốn quốc tế. Đơn cử, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã BSR) đang có kế hoạch huy động vốn quốc tế. Hay mới đây, Tập đoàn Vingroup cũng đang xúc tiến đợt phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 350 triệu USD, có mệnh giá 200.000 USD/trái phiếu. Lãi suất danh nghĩa dự kiến tối đa 5,75%/năm, kỳ hạn 5 năm kể từ ngày phát hành. Đây là trái phiếu phát hành bằng đồng USD ra thị trường quốc tế, không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và xác định nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của tổ chức phát hành.

Theo ông Nguyễn Chí Thành, Chủ tịch Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), nhu cầu huy động các nguồn lực vốn lớn cả trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển mới là cực lớn.

Tuy nhiên, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết. Ông Nguyễn Quang Thuân, Tổng Giám đốc Finn Group, thẳng thắn nhận định: Điều đáng tiếc nhất là doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp cận nguồn vốn quốc tế với mức chi phí cao hơn đáng kể so nhiều quốc gia trong khu vực.

Ở góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ PVI AM (PVI Asset Management) Trịnh Quỳnh Giao chỉ ra: Giá vốn đắt đỏ, kỳ hạn ngắn là nút thắt đối với các khoản vay quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam, so các doanh nghiệp trong khu vực. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi phát hành trái phiếu quốc tế phải chấp nhận mức lãi suất lên tới 7 - 8%/năm. Con số này cao hơn đáng kể so các doanh nghiệp tại Indonesia hay Philippines, nơi chi phí vốn chỉ dao động quanh 3 - 4%/năm.

Thực tế này không chỉ là câu chuyện của riêng từng doanh nghiệp, mà phản ánh một vấn đề mang tính hệ thống. Chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư và kéo dài chu kỳ tích lũy. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030, cần huy động các nguồn lực lớn cả trong và ngoài nước, bài toán hạ chi phí vốn càng trở nên cấp thiết.

Hiện tại, xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đang ở mức BB+, theo S&P Global, thấp hơn một bậc so ngưỡng “Đầu tư” (Investment Grade). Đây là một ranh giới quan trọng, bởi phần lớn các quỹ đầu tư lớn trên thế giới, nhất là quỹ hưu trí, bảo hiểm, chỉ được phép đầu tư vào các quốc gia đạt mức tối thiểu BBB-. Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam đang đứng ngoài một “dòng vốn khổng lồ” của thế giới. Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Trịnh Quỳnh Giao cho rằng: Mỗi lần một quốc gia được nâng hạng tín nhiệm, mặt bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp thường giảm đáng kể. Không chỉ Chính phủ tiết kiệm được chi phí vay nợ, mà doanh nghiệp cũng được hưởng lợi trực tiếp từ chi phí vốn thấp hơn, kỳ hạn vay dài hơn và khả năng tiếp cận nhà đầu tư đa dạng hơn.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Thuân đánh giá: Thực tế đang đặt ra nhu cầu cần thiết phát triển kênh vốn nợ (trái phiếu) nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều quan trọng không kém nâng hạng thị trường chứng khoán, thậm chí có ý nghĩa kinh tế hơn là việc nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Việc nâng hạng được thực hiện sớm hơn sẽ góp phần tạo thuận lợi cho việc huy động vốn nợ của Chính phủ và doanh nghiệp trên thị trường quốc tế, thu hút dòng vốn ngoại vào thị trường cổ phiếu; giảm chi phí tài chính liên quan hoạt động tài trợ thương mại xuất nhập khẩu.

Nâng cao khả năng hấp thụ, tận dụng hiệu quả nguồn lực

Trong giai đoạn 2026-2030, để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, dự kiến tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước của Việt Nam là 8,22 triệu tỷ đồng, gồm: Ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ đồng, ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng là phù hợp kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030. Riêng năm 2026, theo Quyết định số 352/QĐ-TTg, kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng, gồm: Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 583.700 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng; Vay về cho vay lại là khoảng 10.092 tỷ đồng. Về kế hoạch cân đối trả nợ của Chính phủ, dự kiến khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, đánh giá: Nghị định số 119 giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án, đồng thời nâng cao tính chủ động của các cơ quan thực hiện trong tiếp cận và triển khai nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây mới là một bước tiến trong cả quá trình cải cách dài hạn.

Riêng với tình trạng một số địa phương “trả lại vốn” ODA trong thời gian qua, ông Nguyễn Bá Hùng phân tích: Cần được hiểu đúng, bởi phần lớn đây là vấn đề kỹ thuật liên quan tiến độ giải ngân hằng năm, hoặc một số đơn vị thấy rằng quy trình ODA phức tạp, triển khai chậm, nên cân nhắc chuyển sang sử dụng nguồn vốn khác như ngân sách trong nước - lựa chọn mà nếu không giải ngân kịp, các đơn vị có thể trả lại phần chưa sử dụng và sẽ đăng ký lại vào năm sau khi có tiến độ tốt hơn. Vì vậy, việc trả lại vốn không đồng nghĩa với việc hủy dự án. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: Trong tương lai, rủi ro sẽ lớn hơn khi các khoản vay ngày càng ít ưu đãi và có thể phát sinh phí cam kết. Nếu giải ngân chậm, vẫn phải trả phí, làm giảm hiệu quả dự án. Do đó, vấn đề cốt lõi là năng lực thực hiện.

“Chúng ta cần đẩy nhanh tiến độ triển khai để nâng cao khả năng hấp thụ vốn và tận dụng hiệu quả nguồn lực từ các nhà tài trợ”, ông Hùng khẳng định.

Cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột

Với Việt Nam, mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư” trước năm 2030 không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, mà là đòn bẩy chiến lược để giảm chi phí vốn cho toàn nền kinh tế. Điều đáng nói là nhiều chỉ số vĩ mô của Việt Nam hiện không hề thua kém các quốc gia trong khu vực. Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) duy trì ở mức cao, nợ công được kiểm soát ở khoảng 33-40% GDP, dự trữ ngoại hối cải thiện đáng kể và môi trường chính trị ổn định.

Chính vì vậy, giới chuyên gia tài chính có chung nhận định: Để giải bài toán chi phí vốn, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ trên nhiều trụ cột. Dẫn lại những buổi làm việc với chuyên gia phân tích và báo cáo xếp hạng của các hãng như: S&P Global, Moody’s, FitchRating, ông Nguyễn Quang Thuân cho biết: Họ thể hiện sự quan tâm, đặt nhiều câu hỏi, bình luận liên quan những vấn đề như hiệu quả thể chế và quản trị, hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ, chỉ số quản trị tổng hợp, độ tin cậy và hiệu quả của chính sách tiền tệ, khuynh hướng lạm phát… Đây là những điểm Việt Nam cần lưu ý cải thiện hoặc chủ động đối thoại làm rõ.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Việt Nam có thể gia tăng sức mạnh thể chế kinh tế ở việc cải thiện tính có thể dự báo và tính minh bạch về chính sách tài chính-tiền tệ; tính ổn định của hệ thống tài chính, trong đó có vai trò của thị trường vốn; vị thế dự trữ ngoại hối, sức khỏe hệ thống ngân hàng thông qua tăng cường bộ đệm vốn và chất lượng tài sản và phát triển thị trường vốn; công bố thông tin ra bên ngoài tiệm cận và phù hợp thông lệ quốc tế và phổ biến dữ liệu, cải thiện các chỉ số quản trị. Theo báo cáo đánh giá do Nhóm chuyên gia của PVI AM thực hiện, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đang nhìn vào những yếu tố sâu hơn, mang tính cấu trúc của thị trường vốn, như: chất lượng thể chế và quản trị; “sức khỏe” của hệ thống tài chính; độ sâu của thị trường vốn…

Các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines hay Malaysia đều đã đạt mức xếp hạng “Đầu tư” từ nhiều năm trước. Điều đáng nói, họ không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn kiên trì cải cách thể chế và nâng cao chất lượng thị trường tài chính. Kết quả là chi phí vốn giảm rõ rệt, khả năng huy động vốn quốc tế cải thiện đáng kể - điều rất đáng để học hỏi và chiêm nghiệm ■

Trong giai đoạn 2026-2030, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có thể tài trợ khoảng 12 tỷ USD cho Việt Nam, bao gồm cả các khoản vay dự án và hỗ trợ ngân sách. Đây mới là mức tham vấn ban đầu. Thực tế, ADB hoàn toàn có đủ năng lực để tăng quy mô hỗ trợ, tùy thuộc vào nhu cầu vốn của Việt Nam và tiến độ triển khai dự án. Nếu các dự án được thực hiện nhanh, hiệu quả, nhất là các dự án quy mô lớn, có tác động lan tỏa cao, khả năng huy động thêm vốn là hoàn toàn khả thi.

Có thể bạn quan tâm

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Đội tuyển karate Việt Nam giành Huy chương vàng nội dung kata đồng đội nữ, ở hai kỳ ASIAD liên tiếp - mẫu hình thành công về đầu tư có trọng điểm. Ảnh: Bùi Lượng

Thay đổi tư duy hay tụt hậu?

Đoàn thể thao Việt Nam vừa khép lại kỳ ASIAD 20 với ba Huy chương vàng, ba Huy chương bạc và 19 Huy chương đồng. Chúng ta đứng thứ 5 Đông Nam Á và xếp hạng 20 châu lục.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.