Bước thăng trầm ở làng tranh Đông Hồ

Trong những ngày cuối năm lạnh, dưới màn mưa lất phất, có thoảng gợi không khí mùa xuân và cả chút nỗi niềm chia tay một năm đã qua, tôi được ngồi trong xưởng tranh của một người “muôn năm cũ” ở một ngôi làng đã nhiều đổi mới, để trò chuyện về một nghề xưa của cha ông đã gần 600 trăm. Đó là nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Niềm vui người làm nghề tranh Đông Hồ.
Niềm vui người làm nghề tranh Đông Hồ.

Chợ tranh Tết xưa và chuyện những “anh hàng tờ”

Trong không khí đó, chợt thấy sao mà cách dùng từ của cụ Vũ Đình Liên đắt giá đến vậy, “muôn năm cũ” gợi lên cái hoài niệm tựa như xuyên qua hàng thế kỷ, hàng bao nhiêu số phận, lại khiến cho ta vương vấn và cũng không nguôi hy vọng, nhìn về phía trước.

Nhớ lại thuở xưa, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, những phiên chợ Tết luôn là sự chờ đợi suốt hơn 360 ngày trong năm. Chợ tranh Tết ban đầu là nhu cầu của người làm tranh, làm nhiều thì phải mang ra chợ bán, mà chợ Tết hẳn là đông vui nhất, là phiên mà người ta tiêu tiền ít đắn đo hơn. Chính vì vậy, không chỉ người lớn, đám nhỏ trong nhà cũng nôn nao trước mỗi phiên chợ cuối năm.

“Ngày hôm trước phiên chợ bao giờ cũng bận rộn nhất, phải dậy từ tờ mờ sáng, chuẩn bị tranh, sắp xếp xem các loại tranh bộ thì đem tranh gì, tranh thờ đem tranh nào… Đóng buộc vào một cái bao tải, sau đó chằng sẵn vào xe đạp. Hồi chúng tôi còn bé thì đi những cái chợ gần, cách nhà khoảng độ 10-15 cây số. Có những chợ xa hơn thì cách vài chục cây”, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả (làng Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh) say sưa nhớ lại. “Không có nhà trọ, khách sạn như bây giờ, nhưng những người bán tranh thường được người ta mời vào ở tạm, cho ăn… đó là cái tình của người thời xưa, mà thợ làm tranh chúng tôi còn có được”.

Đó là với lớp trẻ nhỏ, còn công việc bán tranh Tết ở nơi xa hơn, vất vả hơn thì dành cho những bậc thanh niên, cha chú. Cũng với gia tài là những bức tranh, họ đi tới tận những chợ vùng núi, đi vùng xa sâu như mạn Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, thậm chí lên đến tận Tuyên Quang (vùng Tuyên Hóa theo tên gọi xưa)… Chính vì chợ xa, nên người bán tranh phải ở lại hàng tuần, hàng tháng cho bõ công đi lại. Và các nghệ nhân đi bán tranh ấy thiệt thòi hơn người khác rất nhiều, đôi khi 30 Tết mới trở về đoàn tụ cùng gia đình, thậm chí có những người vì tiếc rẻ phiên chợ chiều 30 mà đến sáng ngày đầu năm mới rồi cũng chưa trở về được quê hương bản quán.

“Thế cho nên người xưa mới có câu ca dao là “thừa con chẳng gả cho anh hàng tờ - đến 30 Tết vẫn bơ vơ ngoài đường”. Anh hàng tờ chính là chỉ những người làm tranh, bán tranh Đông Hồ như chúng tôi đấy” - chú Quả ngậm ngùi kể.

… Những “anh hàng tờ” thức thời.

Ấy là ca dao nói vui vậy thôi chứ người làm nghề tranh Đông Hồ cũng thức thời lắm lắm, điều đó thể hiện qua cả sự phát triển của các dòng tranh cho đến chủ đề được đưa vào tranh xưa.

Dòng tranh Đông Hồ ban đầu là tranh vẽ. Theo lời kể của chú Quả, khi thị trường mua nhiều quá, các cụ vẽ không kịp, bèn tạo ra loại tranh vừa in vừa khắc. Nghĩa là tranh được đục nét đen, rồi dùng bút lông vẽ lại tranh mang sắc thái đen trắng của tranh thủy mặc. Còn loại thứ 3 là dùng mộc bản tạo tranh và sau đó in lại trên giấy dó phủ điệp. Và loại cuối cùng, nhờ biến từ mộc bản âm thành dương bản để tạo ra một dòng tranh mới là tranh gỗ. Nhờ có mộc bản mà tranh Đông Hồ được in ra nhanh hơn thể loại vẽ xưa, đáp ứng nhu cầu thị trường bấy giờ và tạo nên di sản đặc trưng của làng tranh này cho đến tận ngày nay.

Tuy nhiên, ván gỗ dù có vai trò như một chiếc “máy photocopy” nhưng vẫn mang đậm tính thủ công và dấu ấn của mỗi nghệ nhân. Bởi vì với ván khắc gỗ, người thợ làm tranh ở các công đoạn vẫn phải tạo mẫu, phân mảng tranh, in ấn thật sắc nét… bằng tay thì mới có thể tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh.

Tạo mẫu là khâu rất quan trọng. Để tranh sống được trong lòng người thưởng thức, bán được trên thị trường, thì mẫu tranh đó phải đi vào lòng người, phải đúng với nội tâm và mong muốn của người thưởng thức. Để làm được điều đó, người ra mẫu phải rất am hiểu văn hóa truyền thống để đưa vào mẫu tranh. Chú Quả tâm sự: “Trong cuộc sống, mình cũng thấm đẫm văn hóa này và thấy rõ những giá trị đạo đức đã đúc kết hàng nghìn năm đã được cha ông kết tinh và truyền lại cho thế hệ sau. Thí dụ như ngũ phúc, ngũ thường, thí dụ như tứ đức của người phụ nữ… đó là những giá trị cốt lõi, ngày nay dù có thay đổi nhưng vẫn là nền tảng không thể mất đi. Nhờ những bức tranh mà truyền lại được cho thế hệ sau, đến tận ngày nay”. Chú cũng chia sẻ thêm: “Đó là những giá trị mà ngày nay người ta đã quên đi nhiều quá. Tôi cố gắng làm nghề không chỉ vì yêu việc làm tranh, mà còn để phần nào cứu vãn, giữ lại những giá trị văn hóa trong tranh xưa”.

Sự thức thời của người làng Hồ thể hiện qua các mẫu tranh. Ban đầu các cụ cũng làm mẫu theo đời sống, văn hóa… những mẫu giản dị như con gà, con lợn, cho đến các lễ hội, hay giá trị sống đều được đưa vào. Nhưng khi đưa ra thị trường, thì các mẫu như phúc lộc song toàn, bình an… được mua nhiều, vì ai cũng mong muốn sự may mắn, thiện lương. Còn những tranh mang chủ đề như khẩu thiệt (hai người cãi nhau)… thì ít người treo. Từ đó, người làng tranh sẽ dần bỏ đi những mẫu không được ưa chuộng, thể hiện cái nhìn nhạy bén về thị trường và linh hoạt trong lao động, sáng tạo.

Người xưa cũng dạy con làm nghề từ rất sớm. Như chú Quả, từ khi 5-7 tuổi đã bắt đầu phải tập tành và đảm nhiệm một mảng công việc, từ những công đoạn vừa sức mình, như tô mầu hay vẽ… “Làm đi làm lại, đến lúc các cụ duyệt, thấy ưng ý thì mới được”, chú cho hay. Năm tháng rèn luyện như vậy khiến cho những người con làng nghề trở thành những “tay siêu sao” trong ngón nghề làm tranh.

Nhớ lại những ngày làm trong hợp tác xã, với định mức khoán thí dụ 100 bộ tranh khoảng 18 công, thì những người lành nghề như chú Quả làm chỉ hết khoảng 8 công. Hoặc là khoán khoảng nửa cân màu, thì người có nghề chỉ làm hết khoảng ba lạng, tiết kiệm được nguyên liệu rất nhiều so với nhân công bình thường.

Sự rèn luyện như vậy cũng tùy thuộc vào công việc và nề nếp của mỗi một gia đình, mỗi nghệ nhân. Nhưng không chỉ có vậy, nếu xét về kỹ thuật thì những người lành nghề chỉ cần nhìn màu là biết đó là tranh của gia đình nào. “Bởi vì màu thể hiện sự tinh tế của một bức tranh, khác nhau ở độ đậm độ nhạt, ở độ vờn màu, tản màu… như thế nào. Cũng là tranh ôm gà với trâu thổi sáo, tưởng giống nhau nhưng nhìn sản phẩm của ai là người trong nghề biết ngay”, chú Quả bật mí.

Tuy nhiên, khi còn bé làm khâu tô màu không có nghĩa tô màu là dễ và công đoạn khác là khó. Theo lời chú Quả, các khâu đều đóng góp phần quan trọng vào vẻ đẹp của một bức tranh. “Bởi vậy, khi có ai đó hỏi rằng, trong dòng tranh Đông Hồ của anh mấy trăm mẫu thì anh thấy đứa con tinh thần của anh quý nhất là đứa nào, thì tôi nói rằng, tất cả các sản phẩm của tôi đều quý như nhau, mỗi tranh có một nội dung, mỗi tranh có một cái thông điệp và phản ánh một góc độ và ý nghĩa khác nhau”.

Hành trình sống với nghề của nghệ nhân

Dù đã được cha ông truyền dạy kỹ lưỡng như vậy và có thời gian làm nghề không hề ít, nhưng để lập nghiệp và làm nên tên tuổi riêng vẫn là một thử thách với bất kỳ ai, đặc biệt khi muốn trở thành một nghệ nhân thực thụ.

Đến năm 38 tuổi, chú Quả mới chính thức được cụ thân sinh đưa ra làm xưởng riêng, đó là cách để con cái trưởng thành và giữ nghề.

“Khi mình ra làm riêng thì khó khăn nhiều vô kể, đặc biệt với một nghệ nhân trẻ chưa có danh tiếng. Quan niệm thời xưa ở mình ấy là chưa biết tranh đẹp, tranh xấu ra sao, cứ nói đến nghệ nhân là thích mua của người già. Rồi ban đầu có nhiều người tốt giúp mình, nhưng cũng có nhiều người không tốt, người ta mua tranh nhưng rồi không trả tiền chẳng hạn. Mình cũng chấp nhận, mình coi đó là nợ đời và người ta phải trả nơi khác”, chú Quả nhớ lại.

Vào những năm 80-90 của thế kỷ trước, đó cũng là giai đoạn khó khăn chung của đất nước. Những người làm tranh làng Hồ còn phải đi làm đủ thứ nghề, thí dụ như làm mầu cho vỏ pháo, hay làm giấy phục vụ hàng mã. “Mình cũng không hiểu sao lại vượt qua được khó khăn như thế nữa. Cả ngày làm thuê có khi chỉ đong được mấy ca gạo, ấy thế mà vẫn sống sót, cố gắng giữ cho bằng được nghề”, vừa nói chú Quả vừa cười khà khà, nụ cười của người đã vượt qua đủ những cay đắng, thăng trầm và đạt được hạnh phúc như ngày nay.

“Thậm chí có nhiều người từng bảo mình, khi tách ra mình sẽ phải bỏ nghề nhưng mà với năng lực và với tính kiên trì, đến hôm nay mình đã có một đáp số trả lời cho mọi người rằng, mình vẫn sống được với nghề làm tranh và con cháu mình vẫn đang tiếp nối. Thì mình nghĩ đấy là sự thành công”.

Đến nay, chú Quả là một trong những gia đình hiếm hoi còn giữ lại nghề truyền thống ở làng. Chú cũng vẫn còn lưu được khoảng hơn 200 mẫu ván cổ, tiếp tục phục chế những mẫu quý, để tranh Đông Hồ tiếp tục được lan tỏa rộng rãi hơn.

Một điều còn nuối tiếc với chú Quả khi trở lại câu chuyện ngày xuân đó là chợ tranh xưa thật sự chỉ là ký ức. Chú Quả cho biết, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh từng có lần tái hiện chợ tranh, mời các gia đình nghệ nhân đến trưng bày tranh. “Nhưng thế hệ nay cũng chỉ biết thế, nghe vậy, chứ chợ diễn ra như thế nào thì không biết được. Vì để dựng lại như cũ, nhất là cái bối cảnh, không khí và hoạt động của người mua, người bán thì không dễ gì làm được”, chú Quả tâm sự.

Trong căn nhà hiện đại của chú Quả nằm bên bờ đê lộng gió, những tiếng đục gỗ, tiếng mài giấy… vẫn đều đặn vang lên ngày ngày. Có lẽ đó đã là sự mãn nguyện lớn nhất của lão nghệ nhân. “Mình mong muốn một người giữ nghề cho mình, thì mình đã có. Đó là thành công, mà với bản thân mình là điều toại nguyện rồi”.

Theo những ghi chép tư liệu, khoảng năm 1945, làng Đông Hồ có 17 dòng họ thì tất cả các dòng họ này đều làm tranh. Đến nay, chỉ còn gia đình Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả (con trai cố Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Sam) và dòng họ ông Nguyễn Đăng Chế là còn làm tranh. Cùng với thăng trầm của làng, cuộc đời một nghệ nhân như chú Quả cũng thật nhiều bước ngoặt: Từ thuở nhỏ học nghề, đến khi lập nghiệp, chứng kiến sự phát triển cực thịnh của làng nghề cho tới những ngày dần mai một, chú vẫn kiên trì giữ và truyền nghề cho con cháu. Có lẽ như câu ca dao: “Hỡi cô thắt lưng bao xanh/ Có về làng Mái với anh thì về/ Làng Mái có lịch có lề/ Có sông tắm mát có nghề làm tranh”, những người như chú Quả chỉ mong giữ được lề lối của một làng nghề trăm năm, dù biết rằng “dẫu xưa còn lại chút này” đi chăng nữa.

Có thể bạn quan tâm

Ông Phạm Hữu Phụ và Thượng úy Lê Sỹ Vũ ở thôn Đoàn Kết.

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh quốc gia. Thế nhưng do yếu tố lịch sử cùng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều đoạn biên giới dài trong nhiều năm gần như vắng bóng người dân sinh sống ổn định. Đầu tháng 4 năm 2019, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chính thức khởi xướng và triển khai Đề án Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới, đồn, trạm biên phòng (thường được biết đến với tên gọi Đề án 811). Đó là bước ngoặt chiến lược đưa dân ra lập ấp, đưa các dải biên cương thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Nhưng những câu chuyện vùng biên, không chỉ nằm ở một đề án.

Anh Lê Quang Đảng gắn bó với thư pháp Việt tròn 20 năm.

Gieo duyên qua nét thư pháp Việt

Để lưu giữ nét đẹp của thư pháp Việt, nhà thư pháp Lê Quang Đảng (36 tuổi) cho rằng, viết một con chữ dựa trên cái tâm muốn làm chứ không vì tấm huy hiệu hay lời khen, mọi công đoạn đều trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên như hơi thở. Viết thư pháp Việt là cách giúp anh Đảng kể lại từng câu chuyện sâu thẳm bên trong thế giới nội tâm.

Khung cảnh Ngải Thầu nhìn từ trên cao.

Hoa nở trên mũi đá Ma Cha Va

Tháng chín mùa thu, đang mùa lúa chín, Y Tý đẹp như miền cổ tích. Từ bản nhỏ Chi Chu Lìn, già làng Sùng A Lử, ngước đôi mắt xa xăm về phía vách đá Ngải Thầu. Vách đá nhô ra như chiếc mỏ con diều hâu khổng lồ, xòe đôi cánh lớn trùm lấy ngọn núi Ma Cha Va vòi vọi trên nền trời xanh thăm thẳm.

Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Lâu lên thượng nguồn.

Ô Lâu, dòng sông của những lời hẹn

Có lần, trong một buổi dừng chân bên đình Lương Điền, phía sau lũy tre làng bỗng vọng ra câu hát ru: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò…”. Câu hát cũ đưa chúng tôi lần theo một dòng sông đã đi qua bao miền ký ức của đất Quảng Trị. Nhưng trước khi gặp cây đa, bến cộ (bến sông Ô Lâu), những cuộc tình và những thân phận đời người, chúng tôi ngược lên miền tây Hải Lăng, tìm về nơi những nhánh nước đầu tiên góp thành dòng Ô Lâu. Ở đó, dưới những cánh rừng còn mang dấu tích chiến tranh, có những người đã nằm lại và có những người vẫn miệt mài đi tìm nhau sau hơn nửa thế kỷ.

Chị Trương Thị Phượng và con gái chuẩn bị quần áo đem tặng.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Trở lại Kim Vân

Trở lại Kim Vân

Gần một năm kể từ trận lũ lịch sử tháng 10/2025, ở thôn Kim Vân (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên), ám ảnh về đợt thiên tai khủng khiếp vẫn còn đó. Nhưng trong sự thăng trầm của mảnh đất lòng chảo này, một hành trình hồi sinh đang diễn ra trên đồi Lũng Cậu, nơi đang khẩn trương thi công dự án khu tái định cư.

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...