Bước thăng trầm ở làng tranh Đông Hồ

Trong những ngày cuối năm lạnh, dưới màn mưa lất phất, có thoảng gợi không khí mùa xuân và cả chút nỗi niềm chia tay một năm đã qua, tôi được ngồi trong xưởng tranh của một người “muôn năm cũ” ở một ngôi làng đã nhiều đổi mới, để trò chuyện về một nghề xưa của cha ông đã gần 600 trăm. Đó là nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Niềm vui người làm nghề tranh Đông Hồ.
Niềm vui người làm nghề tranh Đông Hồ.

Chợ tranh Tết xưa và chuyện những “anh hàng tờ”

Trong không khí đó, chợt thấy sao mà cách dùng từ của cụ Vũ Đình Liên đắt giá đến vậy, “muôn năm cũ” gợi lên cái hoài niệm tựa như xuyên qua hàng thế kỷ, hàng bao nhiêu số phận, lại khiến cho ta vương vấn và cũng không nguôi hy vọng, nhìn về phía trước.

Nhớ lại thuở xưa, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, những phiên chợ Tết luôn là sự chờ đợi suốt hơn 360 ngày trong năm. Chợ tranh Tết ban đầu là nhu cầu của người làm tranh, làm nhiều thì phải mang ra chợ bán, mà chợ Tết hẳn là đông vui nhất, là phiên mà người ta tiêu tiền ít đắn đo hơn. Chính vì vậy, không chỉ người lớn, đám nhỏ trong nhà cũng nôn nao trước mỗi phiên chợ cuối năm.

“Ngày hôm trước phiên chợ bao giờ cũng bận rộn nhất, phải dậy từ tờ mờ sáng, chuẩn bị tranh, sắp xếp xem các loại tranh bộ thì đem tranh gì, tranh thờ đem tranh nào… Đóng buộc vào một cái bao tải, sau đó chằng sẵn vào xe đạp. Hồi chúng tôi còn bé thì đi những cái chợ gần, cách nhà khoảng độ 10-15 cây số. Có những chợ xa hơn thì cách vài chục cây”, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả (làng Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh) say sưa nhớ lại. “Không có nhà trọ, khách sạn như bây giờ, nhưng những người bán tranh thường được người ta mời vào ở tạm, cho ăn… đó là cái tình của người thời xưa, mà thợ làm tranh chúng tôi còn có được”.

Đó là với lớp trẻ nhỏ, còn công việc bán tranh Tết ở nơi xa hơn, vất vả hơn thì dành cho những bậc thanh niên, cha chú. Cũng với gia tài là những bức tranh, họ đi tới tận những chợ vùng núi, đi vùng xa sâu như mạn Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, thậm chí lên đến tận Tuyên Quang (vùng Tuyên Hóa theo tên gọi xưa)… Chính vì chợ xa, nên người bán tranh phải ở lại hàng tuần, hàng tháng cho bõ công đi lại. Và các nghệ nhân đi bán tranh ấy thiệt thòi hơn người khác rất nhiều, đôi khi 30 Tết mới trở về đoàn tụ cùng gia đình, thậm chí có những người vì tiếc rẻ phiên chợ chiều 30 mà đến sáng ngày đầu năm mới rồi cũng chưa trở về được quê hương bản quán.

“Thế cho nên người xưa mới có câu ca dao là “thừa con chẳng gả cho anh hàng tờ - đến 30 Tết vẫn bơ vơ ngoài đường”. Anh hàng tờ chính là chỉ những người làm tranh, bán tranh Đông Hồ như chúng tôi đấy” - chú Quả ngậm ngùi kể.

… Những “anh hàng tờ” thức thời.

Ấy là ca dao nói vui vậy thôi chứ người làm nghề tranh Đông Hồ cũng thức thời lắm lắm, điều đó thể hiện qua cả sự phát triển của các dòng tranh cho đến chủ đề được đưa vào tranh xưa.

Dòng tranh Đông Hồ ban đầu là tranh vẽ. Theo lời kể của chú Quả, khi thị trường mua nhiều quá, các cụ vẽ không kịp, bèn tạo ra loại tranh vừa in vừa khắc. Nghĩa là tranh được đục nét đen, rồi dùng bút lông vẽ lại tranh mang sắc thái đen trắng của tranh thủy mặc. Còn loại thứ 3 là dùng mộc bản tạo tranh và sau đó in lại trên giấy dó phủ điệp. Và loại cuối cùng, nhờ biến từ mộc bản âm thành dương bản để tạo ra một dòng tranh mới là tranh gỗ. Nhờ có mộc bản mà tranh Đông Hồ được in ra nhanh hơn thể loại vẽ xưa, đáp ứng nhu cầu thị trường bấy giờ và tạo nên di sản đặc trưng của làng tranh này cho đến tận ngày nay.

Tuy nhiên, ván gỗ dù có vai trò như một chiếc “máy photocopy” nhưng vẫn mang đậm tính thủ công và dấu ấn của mỗi nghệ nhân. Bởi vì với ván khắc gỗ, người thợ làm tranh ở các công đoạn vẫn phải tạo mẫu, phân mảng tranh, in ấn thật sắc nét… bằng tay thì mới có thể tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh.

Tạo mẫu là khâu rất quan trọng. Để tranh sống được trong lòng người thưởng thức, bán được trên thị trường, thì mẫu tranh đó phải đi vào lòng người, phải đúng với nội tâm và mong muốn của người thưởng thức. Để làm được điều đó, người ra mẫu phải rất am hiểu văn hóa truyền thống để đưa vào mẫu tranh. Chú Quả tâm sự: “Trong cuộc sống, mình cũng thấm đẫm văn hóa này và thấy rõ những giá trị đạo đức đã đúc kết hàng nghìn năm đã được cha ông kết tinh và truyền lại cho thế hệ sau. Thí dụ như ngũ phúc, ngũ thường, thí dụ như tứ đức của người phụ nữ… đó là những giá trị cốt lõi, ngày nay dù có thay đổi nhưng vẫn là nền tảng không thể mất đi. Nhờ những bức tranh mà truyền lại được cho thế hệ sau, đến tận ngày nay”. Chú cũng chia sẻ thêm: “Đó là những giá trị mà ngày nay người ta đã quên đi nhiều quá. Tôi cố gắng làm nghề không chỉ vì yêu việc làm tranh, mà còn để phần nào cứu vãn, giữ lại những giá trị văn hóa trong tranh xưa”.

Sự thức thời của người làng Hồ thể hiện qua các mẫu tranh. Ban đầu các cụ cũng làm mẫu theo đời sống, văn hóa… những mẫu giản dị như con gà, con lợn, cho đến các lễ hội, hay giá trị sống đều được đưa vào. Nhưng khi đưa ra thị trường, thì các mẫu như phúc lộc song toàn, bình an… được mua nhiều, vì ai cũng mong muốn sự may mắn, thiện lương. Còn những tranh mang chủ đề như khẩu thiệt (hai người cãi nhau)… thì ít người treo. Từ đó, người làng tranh sẽ dần bỏ đi những mẫu không được ưa chuộng, thể hiện cái nhìn nhạy bén về thị trường và linh hoạt trong lao động, sáng tạo.

Người xưa cũng dạy con làm nghề từ rất sớm. Như chú Quả, từ khi 5-7 tuổi đã bắt đầu phải tập tành và đảm nhiệm một mảng công việc, từ những công đoạn vừa sức mình, như tô mầu hay vẽ… “Làm đi làm lại, đến lúc các cụ duyệt, thấy ưng ý thì mới được”, chú cho hay. Năm tháng rèn luyện như vậy khiến cho những người con làng nghề trở thành những “tay siêu sao” trong ngón nghề làm tranh.

Nhớ lại những ngày làm trong hợp tác xã, với định mức khoán thí dụ 100 bộ tranh khoảng 18 công, thì những người lành nghề như chú Quả làm chỉ hết khoảng 8 công. Hoặc là khoán khoảng nửa cân màu, thì người có nghề chỉ làm hết khoảng ba lạng, tiết kiệm được nguyên liệu rất nhiều so với nhân công bình thường.

Sự rèn luyện như vậy cũng tùy thuộc vào công việc và nề nếp của mỗi một gia đình, mỗi nghệ nhân. Nhưng không chỉ có vậy, nếu xét về kỹ thuật thì những người lành nghề chỉ cần nhìn màu là biết đó là tranh của gia đình nào. “Bởi vì màu thể hiện sự tinh tế của một bức tranh, khác nhau ở độ đậm độ nhạt, ở độ vờn màu, tản màu… như thế nào. Cũng là tranh ôm gà với trâu thổi sáo, tưởng giống nhau nhưng nhìn sản phẩm của ai là người trong nghề biết ngay”, chú Quả bật mí.

Tuy nhiên, khi còn bé làm khâu tô màu không có nghĩa tô màu là dễ và công đoạn khác là khó. Theo lời chú Quả, các khâu đều đóng góp phần quan trọng vào vẻ đẹp của một bức tranh. “Bởi vậy, khi có ai đó hỏi rằng, trong dòng tranh Đông Hồ của anh mấy trăm mẫu thì anh thấy đứa con tinh thần của anh quý nhất là đứa nào, thì tôi nói rằng, tất cả các sản phẩm của tôi đều quý như nhau, mỗi tranh có một nội dung, mỗi tranh có một cái thông điệp và phản ánh một góc độ và ý nghĩa khác nhau”.

Hành trình sống với nghề của nghệ nhân

Dù đã được cha ông truyền dạy kỹ lưỡng như vậy và có thời gian làm nghề không hề ít, nhưng để lập nghiệp và làm nên tên tuổi riêng vẫn là một thử thách với bất kỳ ai, đặc biệt khi muốn trở thành một nghệ nhân thực thụ.

Đến năm 38 tuổi, chú Quả mới chính thức được cụ thân sinh đưa ra làm xưởng riêng, đó là cách để con cái trưởng thành và giữ nghề.

“Khi mình ra làm riêng thì khó khăn nhiều vô kể, đặc biệt với một nghệ nhân trẻ chưa có danh tiếng. Quan niệm thời xưa ở mình ấy là chưa biết tranh đẹp, tranh xấu ra sao, cứ nói đến nghệ nhân là thích mua của người già. Rồi ban đầu có nhiều người tốt giúp mình, nhưng cũng có nhiều người không tốt, người ta mua tranh nhưng rồi không trả tiền chẳng hạn. Mình cũng chấp nhận, mình coi đó là nợ đời và người ta phải trả nơi khác”, chú Quả nhớ lại.

Vào những năm 80-90 của thế kỷ trước, đó cũng là giai đoạn khó khăn chung của đất nước. Những người làm tranh làng Hồ còn phải đi làm đủ thứ nghề, thí dụ như làm mầu cho vỏ pháo, hay làm giấy phục vụ hàng mã. “Mình cũng không hiểu sao lại vượt qua được khó khăn như thế nữa. Cả ngày làm thuê có khi chỉ đong được mấy ca gạo, ấy thế mà vẫn sống sót, cố gắng giữ cho bằng được nghề”, vừa nói chú Quả vừa cười khà khà, nụ cười của người đã vượt qua đủ những cay đắng, thăng trầm và đạt được hạnh phúc như ngày nay.

“Thậm chí có nhiều người từng bảo mình, khi tách ra mình sẽ phải bỏ nghề nhưng mà với năng lực và với tính kiên trì, đến hôm nay mình đã có một đáp số trả lời cho mọi người rằng, mình vẫn sống được với nghề làm tranh và con cháu mình vẫn đang tiếp nối. Thì mình nghĩ đấy là sự thành công”.

Đến nay, chú Quả là một trong những gia đình hiếm hoi còn giữ lại nghề truyền thống ở làng. Chú cũng vẫn còn lưu được khoảng hơn 200 mẫu ván cổ, tiếp tục phục chế những mẫu quý, để tranh Đông Hồ tiếp tục được lan tỏa rộng rãi hơn.

Một điều còn nuối tiếc với chú Quả khi trở lại câu chuyện ngày xuân đó là chợ tranh xưa thật sự chỉ là ký ức. Chú Quả cho biết, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh từng có lần tái hiện chợ tranh, mời các gia đình nghệ nhân đến trưng bày tranh. “Nhưng thế hệ nay cũng chỉ biết thế, nghe vậy, chứ chợ diễn ra như thế nào thì không biết được. Vì để dựng lại như cũ, nhất là cái bối cảnh, không khí và hoạt động của người mua, người bán thì không dễ gì làm được”, chú Quả tâm sự.

Trong căn nhà hiện đại của chú Quả nằm bên bờ đê lộng gió, những tiếng đục gỗ, tiếng mài giấy… vẫn đều đặn vang lên ngày ngày. Có lẽ đó đã là sự mãn nguyện lớn nhất của lão nghệ nhân. “Mình mong muốn một người giữ nghề cho mình, thì mình đã có. Đó là thành công, mà với bản thân mình là điều toại nguyện rồi”.

Theo những ghi chép tư liệu, khoảng năm 1945, làng Đông Hồ có 17 dòng họ thì tất cả các dòng họ này đều làm tranh. Đến nay, chỉ còn gia đình Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả (con trai cố Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Sam) và dòng họ ông Nguyễn Đăng Chế là còn làm tranh. Cùng với thăng trầm của làng, cuộc đời một nghệ nhân như chú Quả cũng thật nhiều bước ngoặt: Từ thuở nhỏ học nghề, đến khi lập nghiệp, chứng kiến sự phát triển cực thịnh của làng nghề cho tới những ngày dần mai một, chú vẫn kiên trì giữ và truyền nghề cho con cháu. Có lẽ như câu ca dao: “Hỡi cô thắt lưng bao xanh/ Có về làng Mái với anh thì về/ Làng Mái có lịch có lề/ Có sông tắm mát có nghề làm tranh”, những người như chú Quả chỉ mong giữ được lề lối của một làng nghề trăm năm, dù biết rằng “dẫu xưa còn lại chút này” đi chăng nữa.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.

Kíp trắc thủ điều khiển tiểu đoàn 52, Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (từ ngoài vào trong: Trần Hay, trắc thủ phương vị; Hoàng Văn Nam, trắc thủ cự ly; Vương Thái Thanh, trắc thủ góc tà).

Khoảng im lặng sau chiến thắng

Thiếu tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Nam (nguyên sĩ quan điều khiển tên lửa, Tiểu đoàn 52, Trung đoàn 267, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không - Không quân) bảo lúc đi lính, ông muốn mình vào không quân, được thành phi công lái máy bay chiến đấu nhưng thị lực không đạt yêu cầu.

Người dân thôn Khuổi Cò thu hoạch quýt.

Đi giữa vùng quýt cổ

Khi những cơn gió bấc đầu tiên tràn về mang theo hơi lạnh của mùa đông thì cũng là lúc trên những triền đồi ở xã Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên lại ngập sắc vàng của những trái quýt giòn.

Những mùa nho Hạ Đen

Một đêm khó quên vào tháng 9/2024. Gió rít liên hồi, cuốn theo mưa như trút nước sau khi bão càn quét qua địa phận xã Nam Dương (tỉnh Bắc Ninh). Lũ ập đến, nhấn chìm vườn nho Hạ Đen rộng hàng nghìn mét vuông của vợ chồng chị Giáp Thị Tuyền.

Mỗi phiên chợ giao dịch hàng nghìn con trâu, bò với giá trị trên dưới 50 tỷ đồng.

Chợ trâu, bò giữa lưng trời

Khi sương mù còn đặc quánh, phủ trắng trên những mái nhà sàn, thì ở một thung lũng nhỏ nơi lưng chừng núi Nghiên Loan, nhịp sống đã hối hả. Đó là phiên chợ "đặc biệt" của cả khu vực miền núi phía bắc - Chợ trâu, bò Nghiên Loan (xã Nghiên Loan, Thái Nguyên).

Đoàn Thái Cúc Hương.

Thế giới cổ tích từ giấy dó

Một tâm hồn nghệ sĩ, một bàn tay khéo léo như nghệ nhân, những câu chuyện bất tận về văn hóa truyền thống và luôn khiêm tốn nhận mình là một thợ thủ công.

Nghệ nhân Nguyễn Phương Uyên tạo dáng cho bonsai mini.

Hơn cả một thú chơi

Nằm trên đường Tô Hiến Thành, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi, ngôi nhà của ông Nguyễn Phương Uyên (54 tuổi) nổi bật hơn hẳn nhờ hàng chục chậu cây bonsai.

Thầy Nam cần mẫn với mô hình du lịch sinh thái. Ảnh: BẢO LONG

Từ bục giảng đến miền quả ngọt

Ở phường Chũ (tỉnh Bắc Ninh), có một người thầy giáo không chỉ truyền cảm hứng trên bục giảng, mà còn mang nhiệt huyết và sự sáng tạo của nghệ thuật để góp phần tạo nên một không gian du lịch xanh. Đó là thầy Đinh Phương Nam, thầy giáo dạy mỹ thuật theo đuổi mô hình du lịch nông nghiệp-sinh thái ở đồng bằng Bắc Bộ.