Biến trái phiếu thành “hàng hiệu”

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam đang phục hồi tích cực sau giai đoạn biến động kéo dài, song vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các chuyên gia cho rằng, để lấy lại niềm tin nội địa và thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài, cần một “cuộc đại tu” về chất lượng.

Nền tảng thị trường trái phiếu đang được củng cố, mở đường cho tăng trưởng trở lại.
Nền tảng thị trường trái phiếu đang được củng cố, mở đường cho tăng trưởng trở lại.

Năm 2025, thị trường TPDN đang cho thấy diện mạo mới với quy mô phát hành, thanh khoản và chất lượng tín dụng đều cải thiện. Sau biến động 2022-2023, nền tảng thị trường được củng cố, mở đường cho tăng trưởng trở lại. Tính đến cuối năm 2024, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 20% GDP, TPDN chỉ chiếm khoảng 12%, còn lại là trái phiếu chính phủ.

Phân loại “vàng, thau” hút vốn nội

Nhóm nghiên cứu của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đánh giá, dù thị trường TPDN đã ghi nhận kết quả tích cực và còn dư địa phát triển lớn, nhưng vẫn tồn tại những điểm nghẽn. Cơ cấu phát hành chưa đa dạng khi tổ chức tín dụng chiếm tới 69,6% và doanh nghiệp bất động sản chiếm 19,7% tổng lượng phát hành. Tỷ lệ doanh nghiệp chậm hoặc hoãn thanh toán đáo hạn vẫn ở mức đáng kể, ảnh hưởng đến niềm tin nhà đầu tư.

Theo ông Lê Việt Cường, chuyên gia phân tích của VIS Rating, việc hơn 80% dư nợ vẫn tập trung vào hai nhóm ngân hàng và bất động sản vừa khẳng định vai trò trụ cột của hai ngành này, vừa tiềm ẩn rủi ro tập trung đáng kể. Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu nâng tỷ lệ dư nợ TPDN lên 25% GDP vào năm 2030, yêu cầu phân tán rủi ro và mở rộng kênh huy động sang các lĩnh vực khác trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Điều này không chỉ tạo ra động lực tăng trưởng trước mắt mà còn định hình một thị trường vốn cân bằng và bền vững hơn. Việc siết chặt tiêu chuẩn phát hành, nâng cao minh bạch thông tin và tăng cường trách nhiệm của đại diện trái chủ đang đặt nền tảng cho một môi trường kỷ luật, góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển dài hạn.

Bên cạnh những giải pháp vĩ mô, ông Dương Đức Hiếu, Giám đốc Khối Xếp hạng và Nghiên cứu VIS Rating cho biết, xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của thị trường TPDN thông qua cung cấp thông tin đáng tin cậy về chất lượng các nhà phát hành và công cụ nợ.

Thực tế, các thị trường châu Á đã áp dụng xếp hạng tín nhiệm từ rất sớm. Sau khi có sự tham gia của hoạt động xếp hạng tín nhiệm nội địa, quy mô thị trường TPDN đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng tính bằng con số chục lần. Trong khi đó, sự phát triển của thị trường xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam mới chỉ ở những bước khởi đầu, chưa tới 10% tổng khối lượng phát hành TPDN riêng lẻ.

“Một trong những giá trị lớn nhất của xếp hạng tín nhiệm là phân loại về định giá. Gọi nôm na là giúp thị trường phân biệt rõ “hàng hiệu” và “hàng bình dân”, nhờ đó định giá đúng với mức rủi ro, tránh tình trạng mọi sản phẩm đều bị trả chung một mức giá”, ông Hiếu phân tích.

Đưa ra góc nhìn thận trọng, ông Lê Việt Cường cho rằng, thị trường đã có hơn 111 doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm vào giữa năm 2025, tăng mạnh so với giai đoạn 2019 - 2022. Dù đây là công cụ hỗ trợ đánh giá rủi ro nhưng không thay thế thẩm định riêng, và khung pháp lý cùng giám sát vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để ngăn ngừa kẽ hở cho các tổ chức phát hành thiếu minh bạch.

Theo đó, nhóm nghiên cứu của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV đề xuất cần tăng cường giám sát trái phiếu sau phát hành, từ quản lý tài sản bảo đảm, theo dõi dòng tiền đến rà soát quy trình định kỳ và áp dụng chế tài nghiêm với hành vi lách luật hay sử dụng vốn sai mục đích. Cùng với đó, cần đẩy mạnh giáo dục tài chính cho cá nhân và có chính sách khuyến khích tổ chức tham gia. Hiện quy định tại Thông tư 98/2022/TT-BTC giới hạn quỹ mở chỉ được mua trái phiếu riêng lẻ có bảo lãnh thanh toán hoặc cam kết mua lại, trong khi thực tế chỉ 14,5% trái phiếu phát hành đáp ứng điều kiện này. Quy định này nên được điều chỉnh để mở rộng cơ hội cho nhà đầu tư tổ chức.

Năm 2015, quy mô thị trường TPDN Việt Nam mới chỉ đạt 5% GDP. Hiện nay quy mô thị trường đã rất phát triển nhưng vẫn còn cách khá xa so với các nước phát triển như Hàn Quốc (80% GDP), Nhật Bản (200% GDP).

Nâng hạng thị trường “câu” vốn ngoại

Bên cạnh nguồn vốn nội địa, nhiều chuyên gia cho rằng để gia tăng lợi thế huy động, đặc biệt là thu hút dòng vốn ngoại, thị trường TPDN cần hướng tới mục tiêu nâng hạng.

Tại một tọa đàm về thị trường vốn gần đây, ông Dominic Scriven, Chủ tịch điều hành Dragon Capital cho biết, trong 15 năm quỹ này kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào sản phẩm TPDN Việt Nam, họ chỉ nhận được “cái gật đầu” từ hai nhà đầu tư.

Ông Dominic Scriven cho biết, kết quả trên không đến từ lãi suất thấp vì sản phẩm của họ mang về lãi suất bình quân hằng năm tới 8,5% tính bằng USD - mức hấp dẫn mà đến từ việc thị trường chưa được nâng hạng. Hiện Việt Nam chưa đạt mức “đầu tư” (investment grade), chuẩn mực dành cho các thị trường giao dịch chứng khoán nợ, đặc biệt là trái phiếu, có xếp hạng tín dụng cao, rủi ro vỡ nợ thấp và khả năng trả nợ đáng tin cậy.

Các tổ chức xếp hạng quốc tế như S&P, Moody’s, Fitch sử dụng thang AAA, AA, A, BBB cho nhóm investment grade, trong khi năm vừa qua Việt Nam được S&P và Fitch chấm BB+, Moody’s chấm Ba2, thuộc nhóm “ổn định”.

Tại Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia được phê duyệt năm 2022, Chính phủ đã đặt mục tiêu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư từ Baa3 trở lên trước năm 2030. Đây không chỉ là một chỉ tiêu kỹ thuật mà là chiến lược dài hạn nhằm thu hút thêm vốn nước ngoài, giảm chi phí huy động và nâng cao uy tín quốc gia.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings cho rằng, việc thị trường trái phiếu chưa được nâng hạng khiến doanh nghiệp Việt Nam mất lợi thế huy động vốn, đặc biệt vốn nước ngoài. Ông dẫn chứng một doanh nghiệp cùng ngành tại Indonesia chỉ phải trả lãi suất khoảng 5,5%/năm cho kỳ hạn 5 năm, trong khi doanh nghiệp Việt Nam hầu như không vay USD được dưới 7%.

Hiện, nhu cầu vốn cho đầu tư công và mở rộng sản xuất rất lớn, riêng các doanh nghiệp niêm yết dự kiến tăng vốn 198.700 tỷ đồng trong năm nay, nhưng mới thực hiện được 56.200 tỷ trong bảy tháng đầu năm, cho thấy nhu cầu còn khổng lồ. Việc nâng hạng thị trường trái phiếu trở thành yêu cầu cấp bách để giảm chi phí vốn và giải tỏa “cơn khát” này.

Tuy nhiên, các chuyên gia đều đồng tình việc nâng hạng thị trường là “không phải đơn giản”, để đạt được mục tiêu này, cần quyết liệt cải thiện minh bạch thông tin, cải thiện trạng thái ngoại hối, cấu trúc thị trường tài chính… Ngoài ra, cần sớm xây dựng danh mục phân loại xanh làm nền tảng cho tài chính xanh và trái phiếu xanh.

Theo ông Jeffrey Lee, Giám đốc phụ trách Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Moody’s Ratings, các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến việc một trái phiếu có được gán nhãn “xanh” hay không mà họ còn muốn khám phá sâu hơn để hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng tới môi trường của trái phiếu đó, hay còn gọi là trái phiếu xanh, xã hội và bền vững (GSS). Điều này cũng thể hiện sự mong muốn ngày càng tăng của các nhà đầu tư về tính minh bạch cũng như các liên quan đến yếu tố môi trường của các trái phiếu mà họ đầu tư vào.

Dù vậy, theo các chuyên gia, then chốt vẫn nằm ở chính các doanh nghiệp. Muốn nâng hạng tín nhiệm, doanh nghiệp phải bắt đầu từ việc minh bạch hóa thông tin và cải thiện chất lượng quản trị. Cùng với đó, cần bảo đảm chất lượng trái phiếu, lựa chọn các dự án dài hạn, khả thi và thực hiện nghiêm các cam kết với nhà đầu tư, tránh tình trạng đổ vỡ giữa chừng làm xói mòn niềm tin thị trường.

"Thanh khoản, quản trị rủi ro, hiệu quả đầu tư và uy tín là bốn yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư vào trái phiếu, kể cả vốn ngoại hay vốn nội", ông Dominic Scriven nhấn mạnh.

Có thể bạn quan tâm

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.