Bước ngoặt cuộc đời
Paul Krugman sinh ra trong một gia đình người Bê-la-rút (Belarus) gốc Do Thái sang định cư tại Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông tự miêu tả mình là “một người cô đơn, thường ngượng ngùng với mọi người”.
Giỏi toán nhưng trầm lắng, cậu bé Paul thường tìm niềm vui bên những cuốn sách, đặc biệt là tiểu thuyết giả tưởng. Một ngày nọ, cậu tìm thấy xê-ri tiểu thuyết có tên Sáng lập của I-xắc A-xi-mốp (Isaac Asimov). Với niềm đam mê sẵn có, cậu bé hứng thú đọc hết cuốn này đến cuốn khác trong loạt tiểu thuyết. Paul đặc biệt ấn tượng với chi tiết: một nhóm các nhà kinh tế - xã hội học đã cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt vong.
“Mình bắt đầu hứng thú với kinh tế rồi đấy!”, Paul tự nhủ, sau khi đóng lại những trang sách. “Mình muốn làm việc và nghiên cứu về kinh tế trong tương lai”.
Sống cùng những đam mê thiếu thời, Paul Krugman gắng hết sức để biến ước mơ trở thành hiện thực. Tốt nghiệp trung học, ông lập tức đăng ký vào chuyên ngành kinh tế của Đại học danh tiếng Yeo (Yale). Năm 1974, khi mới 21 tuổi, Paul Krugman tốt nghiệp Đại học Yale loại danh dự.
Với thành tích học tập xuất sắc, ông được học thẳng lên bậc tiến sĩ của Học viện Công nghệ Ma-xa-chu-xét (Massachusetts). Trong thời gian học tiến sĩ, ông thậm chí được chọn vào nhóm sinh viên tới làm việc tại Ngân hàng Trung ương Bồ Đào Nha. Chỉ mất đúng ba năm, Paul hoàn thành chương trình tiến sĩ.
Cả thế giới đi theo một chàng thanh niên

Ở thời điểm những năm 70 của thế kỷ trước, lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển đã dần cho thấy sự lỗi thời. Lý thuyết này không thể giải thích được thực trạng tồn tại của thương mại quốc tế, về sự phát triển những ngành hàng.
Khi những học giả nghiên cứu lĩnh vực này đang bế tắc, Paul Krugman xuất hiện như một “vị cứu tinh”. Năm 1979, ông đã giúp lý giải vấn đề hóc búa từng khiến hàng nghìn học giả bó tay chỉ bằng một bài đăng trên tạp chí Kinh tế Quốc tế. Ngay sau khi được phổ biến rộng rãi, lý thuyết kinh tế của Paul nhanh chóng được số đông các học giả tán đồng, ủng hộ. Những mô hình xây dựng trên lý thuyết của ông được đặt tên gọi riêng: Lý thuyết Thương mại mới. Tên tuổi Paul Krugman được toàn thế giới biết đến từ thời điểm ấy. Lúc đó, ông mới 26 tuổi.
Với những thành tích xuất sắc trong giới nghiên cứu từ khi còn rất trẻ, năm 1991, Paul Krugman được trao Huân chương Giôn Bây-tơ Clác (John Bates Clark), một giải thưởng chỉ dành cho những nhà kinh tế học dưới 40 tuổi. Đây cũng được coi là “điềm báo” cho một giải Nobel Kinh tế trong tương lai.
Tự biến mình thành“kẻ thù” của cả châu Á
Đầu thập niên 90, châu Á bắt đầu nổi lên như một khu vực kinh tế sẽ thống trị kinh tế thế giới trong tương lai. Bên cạnh Nhật Bản đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới khi ấy, Hồng Công, Đài Loan, Hàn Quốc và Xin-ga-po (Singapore) nhanh chóng trở thành “hiện tượng kinh tế” dưới góc nhìn của phương Tây.
Bốn nền kinh tế nói trên được báo chí phương Tây đặt biệt danh “những con hổ châu Á”. Họ cùng với những nền kinh tế khác như Ma-lai-xi-a (Malaysia), In-đô-nê-xi-a (Indonesia), Thái-lan (Thailand)... được phương Tây liên tục ca tụng dưới cái tên mỹ miều “Châu Á thần kỳ”, với những chính sách đưa đất nước dần tiến tới “thế giới thứ nhất” từ nền tảng nghèo khó.
Giữa những lời khen ngợi như vậy, những “con hổ châu Á” liền gặp phải một kẻ phá bĩnh. Không ai khác, là Paul Krugman. Ông viết một bài trên tạp chí Ngoại giao (The Diplomat) cuối năm 1994, với tiêu đề vô cùng khiêu khích: “Câu chuyện hoang đường của châu Á thần kỳ”.
Trong bài viết này, ông thẳng thừng gọi “những con hổ châu Á” cũng như Nhật Bản, Trung Quốc chỉ là “hổ giấy”. Để minh chứng cho luận điểm của mình, Krugman chỉ ra kinh tế các nước châu Á phát triển chỉ “đơn thuần nhờ tăng vốn đầu tư và sử dụng lao động, chứ không hề có chính sách hay mô hình kinh tế ưu việt nào cả”.
“Không có phép màu nào cả!”, ông khẳng định. Không phải là người đầu tiên đưa ra luận điểm đầy tranh cãi ấy, nhưng Paul Krugman là người đẩy nó lên cao trào. Ông cho rằng chỉ với việc tăng vốn đầu tư và gia tăng lao động sẽ không thể duy trì tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Bài viết ấy ngay từ thời điểm xuất hiện đã gây tranh cãi gay gắt trên thế giới. Những “con hổ châu Á”, vốn rất tự tin vào mô hình phát triển kinh tế mà họ nhận định là hình mẫu kinh tế thế giới trong tương lai, đã chỉ trích Krugman không tiếc lời. Vô số nghiên cứu ở các mức độ khác nhau phản bác lại quan điểm của ông.
Duy nhất một điều có thể minh chứng được rằng, Paul Krugman đã đúng, đó là thực tế. Và thực tế, đã xảy ra còn nhanh hơn cả những dự tính của ông.
Năm 1997, chưa đầy ba năm sau bài viết đầy tranh cãi của Paul Krugman, châu Á xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tệ hại chưa từng có trong lịch sử. Các nhà đầu tư nước ngoài lần lượt rút vốn về nước, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng khiến “bốn con hổ” và những nền kinh tế mới nổi khác tại châu Á tiêu điều.
Chỉ đến lúc này, người ta mới tin Paul Krugman. Bài viết của ông từ chỗ bị chỉ trích nặng nề trong quá khứ đã được coi là “điềm báo” về khủng hoảng kinh tế châu Á. Singapore và Malaysia, hai quốc gia nghiêm túc nhìn nhận quan điểm của Paul Krugmann để xây dựng chính sách, là hai quốc gia thoát khỏi khủng hoảng sớm nhất.
Bước lên đỉnh cao
Năm 2008, Paul Krugman chính thức được nhận Giải Nobel Kinh tế, nhờ “những đóng góp phân tích về mô hình kinh tế và địa lý hoạt động kinh tế”. Khi đó ông 55 tuổi và là nhà Kinh tế học trẻ thứ tư ở thời điểm nhận giải thưởng danh giá này.
Hiện tại, Paul Krugman vẫn tiếp tục miệt mài viết sách, nhằm chuyển hóa những kiến thức hàn lâm trở thành kiến thức thông thường dễ hiểu nhất tới mọi người. Những cuốn sách, bài báo ông viết phục vụ một “phổ” rất rộng độc giả: từ học sinh trung học cho đến giới nghiên cứu chuyên sâu.
Dường như định mệnh đã gắn trọn cuộc đời Paul Krugman với con đường học thuật. Người đàn ông này giờ đây đã 63 tuổi và trải qua hai lần đò, nhưng không có con. “Các con” của ông chỉ là hai chú mèo nhỏ được ông nuôi trong căn nhà ở Niu Oóc (New York).
Chủ đề này thậm chí còn được ông mang ra chia sẻ trên tờ Thời báo Niu Oóc (New York Times). “Thực sự hài hước! Có tin đồn đang lan truyền nói con trai tôi làm việc trong chiến dịch tranh cử của Hi-la-ry Clin-tơn (Hillary Clinton). Vấn đề chỉ là, cả trai lẫn gái, tôi làm gì có con?”.