Hợp tác để thích ứng với công nghệ

Việc ứng dụng phổ biến trí tuệ nhân tạo (AI) trong các hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật đòi hỏi ASEAN cần tăng cường hợp tác nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư pháp, khả năng tiếp cận pháp luật và niềm tin trong khu vực.

Việt Nam là nước tiên phong trong việc ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo. Ảnh: MINH LÊ
Việt Nam là nước tiên phong trong việc ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo. Ảnh: MINH LÊ

Chuyển từ thử nghiệm sang triển khai thực tế

Chia sẻ tại Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 do Bộ Tư pháp Việt Nam đăng cai tổ chức mới đây, bà Mildred Bernadette B. Alvor - Trợ lý Cố vấn trưởng Nhà nước, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Philippines - nhìn nhận AI hiện không còn đơn thuần là một thuật ngữ thời thượng trong lĩnh vực công nghệ, mà đã trở thành một thực tế có thể nhìn thấy rõ hằng ngày.

Một số cơ quan của Chính phủ Philippines đã bắt đầu phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn được thiết kế phù hợp nhu cầu trong nước, như "eLegis Reference System" của Bộ Nội vụ và "iTanong" của Bộ Khoa học và Công nghệ. Các hệ thống này có khả năng sàng lọc một tập hợp cơ sở dữ liệu và tạo ra những bản tóm tắt hoặc kết quả đầu ra ngắn gọn, dễ hiểu để người sử dụng khai thác.

Trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, việc ứng dụng AI cũng ngày càng phổ biến. Tiến sĩ Randeep Kaur, chuyên gia kinh tế về Chính sách số và AI, Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á dẫn chứng việc sử dụng AI để phân tích tài liệu tại Brazil, Hy Lạp; phân luồng vụ việc như tại Pháp; ghi âm, dịch thuật ở Tây Ban Nha, Slovenia, Hy Lạp. AI cũng được sử dụng để dự thảo tài liệu, biên tập thông tin, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý công việc hành chính; tăng tính minh bạch; cho phép chuyên gia pháp lý tập trung vào nhiệm vụ phức tạp hơn. Khảo sát tại Colombia cho thấy, việc sử dụng AI giúp tiết kiệm 36 phút trong rà soát vụ việc, còn tại Argentina, AI có thể giúp giảm thời gian dự thảo một bản án tới 50 phút.

Nhiều quốc gia như Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) và các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) cũng đã coi AI là một công cụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện hiệu quả xây dựng pháp luật và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của người dân.

Hợp tác để thích ứng với đổi mới công nghệ

Tuyên bố Hà Nội về hợp tác số được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Số ASEAN lần thứ 6 diễn ra hồi tháng 1 vừa qua đã khẳng định, AI có khả năng tác động đồng thời đến phương thức vận hành của xã hội, năng suất công nghiệp, an ninh mạng, hoạt động bảo vệ môi trường, sự hình thành những mô hình kinh tế mới và cách thức các chính phủ cung cấp dịch vụ công và dịch vụ hành chính công cho người dân. Do đó, việc phát triển và quản trị AI không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà ngày càng trở thành một bộ phận cốt lõi trong chính sách phát triển, quản trị quốc gia và hợp tác khu vực.

Đối với ASEAN, khả năng phát triển, quản trị và triển khai AI có sức ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của cả khu vực. Trong điều kiện các quốc gia và doanh nghiệp lớn đang gia tăng đầu tư vào AI để giành ưu thế về năng suất, công nghệ và ảnh hưởng, sự phân tán về tiêu chuẩn, dữ liệu và năng lực triển khai có thể làm giảm quy mô thị trường ASEAN, gia tăng chi phí tuân thủ và hạn chế khả năng phát triển các sản phẩm có thể được sử dụng xuyên biên giới. Hợp tác khu vực vì vậy không chỉ giúp chia sẻ nguồn lực mà còn góp phần tạo ra quy mô cần thiết để ASEAN nâng cao sức cạnh tranh và tham gia chủ động hơn vào việc định hình các quy tắc của nền kinh tế AI.

Ông Simone Boneschi, chuyên gia khu vực về pháp quyền và quyền con người, Trung tâm khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho biết, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các khung quản trị khá cơ bản để phát triển AI. Trong đó, Việt Nam là nước tiên phong trong việc ban hành những quy định mang tính ràng buộc thông qua việc Quốc hội ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo.

Dẫn kinh nghiệm của Singapore, ông Tan Sze Yao - Cố vấn Pháp lý nhà nước cao cấp, Vụ Dân sự, Văn phòng Tổng Chưởng lý Singapore - cho biết, khuôn khổ quản trị của nước này đối với việc sử dụng AI gồm 5 lớp, có tác dụng bổ trợ cho nhau, bao gồm từ luật do cơ quan lập pháp ban hành đến các khuôn khổ tự nguyện, tương ứng với tính chất rủi ro mà công cụ đó xử lý.

Theo nhiều ý kiến đại biểu, hợp tác khu vực ASEAN trong lĩnh vực AI cần hướng tới việc xây dựng một số tiêu chuẩn và công cụ dùng chung ở mức độ cần thiết, trên cơ sở đó mỗi quốc gia tiếp tục cụ thể hóa phù hợp với hệ thống pháp luật, nhu cầu quản lý và mức độ sẵn sàng về công nghệ của mình.