“Canh bạc” dầu mỏ

Thỏa thuận dầu mỏ mới giữa Mỹ và Venezuela thoạt nhìn là một “món hời” khi trao cho Washington có cơ hội tiếp cận và kiểm soát hơn 65 tỷ thùng dầu, tương đương khoảng 20% tổng trữ lượng dầu của Venezuela - quốc gia đang sở hữu kho dầu lớn nhất thế giới. Song, nếu tính toán chi ly thì thực tế lại không đã hẳn “ngon ăn”.

Biếm họa: EMAD HAJJAJ
Biếm họa: EMAD HAJJAJ

Theo thỏa thuận được công bố, chính quyền lâm thời Venezuela cấp quyền khai thác dài hạn tại 17 mỏ dầu cho Công ty Mỹ North American Blue Energy Partners (NABEP), với tổng trữ lượng được cho là khoảng 65 tỷ thùng. Phía Mỹ sẽ có quyền mua 20% sản lượng với giá tương đương chi phí sản xuất và quyền ưu tiên mua 80% sản lượng còn lại. Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez cho biết, thỏa thuận năng lượng có thời hạn 25 năm, hướng tới sản lượng hơn 1,5 triệu thùng/ngày tại 17 mỏ chiến lược. Với giả định giá dầu 65 USD/thùng, thỏa thuận có thể mang lại khoảng 209 tỷ USD doanh thu cho Nhà nước Venezuela.

Với Washington, đây là cơ hội tăng nguồn cung dầu từ Tây bán cầu, củng cố an ninh năng lượng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp Mỹ trở lại một thị trường từng là cường quốc dầu mỏ. Với Caracas, đó có thể là chiếc phao tài chính để khôi phục ngành dầu khí và vực dậy nền kinh tế.

Venezuela có hơn 300 tỷ thùng dầu dự trữ đã được chứng minh, song sản lượng hiện thấp xa so mức khoảng 3 triệu thùng/ngày trước đây. Hạ tầng xuống cấp, thiếu đầu tư kéo dài, năng lực sản xuất suy giảm khiến việc khai thác nguồn tài nguyên khổng lồ này trở thành một bài toán tốn kém và mất nhiều thời gian.

Vì thế, muốn biến 65 tỷ thùng dầu thành nguồn thu thực tế, trước hết phải bỏ ra hàng chục tỷ USD để phục hồi giếng dầu, đường ống, cảng biển, nhà máy lọc dầu và hàng loạt công trình phụ trợ. Hơn nữa, dầu Venezuela có đặc tính nặng, đòi hỏi công nghệ và hệ thống lọc phù hợp. Do đó, ngay cả khi thỏa thuận được triển khai, nguồn cung mới cũng khó xuất hiện đủ nhanh để tạo cú huých tức thời cho thị trường dầu mỏ toàn cầu.

Thỏa thuận có quy mô và mức độ can dự của Mỹ chưa từng có tiền lệ trong ngành dầu khí Venezuela. Tuy nhiên, luật pháp hiện hành của quốc gia Nam Mỹ này hạn chế việc chuyển quyền kiểm soát tài nguyên dầu khí cho nước ngoài, trong khi tính chính danh và thẩm quyền hiến định của chính quyền lâm thời cũng có thể bị đặt dấu hỏi.

Một thỏa thuận kéo dài 25 năm, thậm chí quyền khai thác lên tới 100 năm, sẽ có giá trị đến đâu nếu chính quyền Venezuela thay đổi và tuyên bố không công nhận? Và liệu một chính quyền Mỹ tương lai có tiếp tục bảo vệ thỏa thuận nếu chính sách đối với Caracas đảo chiều? Đó là những câu hỏi khiến các nhà đầu tư phải dè chừng.

Giới chuyên gia cảnh báo rằng, các doanh nghiệp dầu khí Mỹ có thể không nghiêm túc xem xét những cam kết mà họ cho rằng khó tồn tại lâu dài. Bởi với một dự án đòi hỏi nhiều tỷ USD và thời gian thu hồi vốn nhiều năm, rủi ro chính trị đôi khi còn đáng sợ hơn rủi ro địa chất.

Thực tế, ngay tại Mỹ cũng có sự chia rẽ. Những người ủng hộ Tổng thống Donald Trump coi thỏa thuận là thắng lợi chiến lược, vừa mở rộng nguồn cung dầu, vừa giúp doanh nghiệp Mỹ giành lại vị thế tại Venezuela. Nhưng phe Dân chủ đặt câu hỏi liệu đây có thật sự là giải pháp giúp giảm giá nhiên liệu cho người Mỹ hay Mỹ đang chấp nhận rủi ro lớn để đổi lấy quyền tiếp cận dầu mỏ Venezuela.

Trong bối cảnh giá dầu Brent đã tăng khoảng 28% khi Mỹ tiến hành chiến dịch quân sự chống Iran, áp lực kiểm soát giá nhiên liệu trong nước và bảo đảm nguồn cung khiến dầu Venezuela trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với Washington. Tuy nhiên, nếu mục tiêu là nhanh chóng hạ giá dầu, Venezuela chưa chắc là “chiếc van” có thể lập tức mở ra dòng cung mới. Khôi phục ngành dầu khí nước này cần nhiều năm, vốn đầu tư khổng lồ và một môi trường an ninh, chính trị đủ ổn định để các tập đoàn dầu khí chấp nhận rót tiền.

Ngay cả những tên tuổi lớn như Chevron và Exxon Mobil cũng chưa thể hiện sự hào hứng rõ ràng với khai thác dầu tại Venezuela. Sự thận trọng của các tập đoàn lớn cho thấy, giới kinh doanh hiểu rõ một thực tế là trữ lượng to lớn không đồng nghĩa với lợi nhuận tương đương.

Đáng nói hơn, nhiều câu hỏi then chốt vẫn chưa được giải đáp: Ai sẽ chịu chi phí khôi phục hạ tầng; Mỹ thật sự được hưởng bao nhiêu trong sản lượng khai thác; Bao nhiêu đến từ quyền sở hữu và bao nhiêu từ quyền mua dầu theo giá thành; Cơ chế phân chia lợi nhuận, rủi ro và trách nhiệm đầu tư sẽ ra sao?... Những câu hỏi ấy sẽ quyết định liệu “món hời” dầu mỏ có thật sự tồn tại hay chỉ là một phép tính trên giấy.

Dầu mỏ Venezuela là kho “vàng đen” giá trị. Song thứ của cải ấy đã nằm dưới lòng đất quá lâu, trong khi để khai khác nó cần không chỉ một ngành công nghiệp mạnh mà còn một môi trường chính trị ổn định.

Vì thế, cho rằng thỏa thuận dầu mỏ Mỹ - Venezuela có thể mang lại hàng trăm tỷ USD có lẽ còn quá sớm vào lúc này. Washington có thể đã giành được một quân bài chiến lược, còn Caracas có thể nhìn thấy cơ hội hồi sinh nền kinh tế. Thế nhưng, để biến thỏa thuận trên giấy thành hàng triệu thùng dầu bán ra trên thị trường, còn cần cả hai bên phải vượt qua một chặng đường dài với những rủi ro chưa lường hết.

Tài nguyên trong trường hợp này chỉ là điểm khởi đầu, vốn, công nghệ, ổn định chính trị và niềm tin pháp lý mới quyết định kho báu ấy có thật sự trở thành “món hời” hay không.