Phóng viên trẻ Hồng Ngân xung phong đi. Cô gái da ngăm đen chưa chồng mới về báo nửa năm nay, muốn chứng tỏ đam mê với nghề. Tôi được phân công đi cùng, kèm và giúp đỡ Ngân. Hai chị em ngồi suốt buổi tối ở nhà tôi bàn bạc về chuyến đi vào sáng mai.
- Chị ơi, đây là lần đầu em đi miền núi đấy, không biết mang những gì? Ở đấy liệu có quán gì không?
- Mang tư trang, vật dụng cá nhân, thuốc thang của mình đi, ở đấy thiếu gì nhờ bà con dân bản thôi, không có quán xá gì đâu.
- Chị có ba lô gì to kia?
- À đấy, kẹo, mì tôm và mũ len đấy. Em có nhẹ thì mang mấy chục đôi tất giúp chị. Mang lên tặng mọi người em ạ.
Ngân có vẻ ngơ ngác. Cũng đúng thôi, cô này chưa bao giờ thấy giá rét miền núi, chưa khi nào thấy cảnh thiếu trăm bề của người vùng cao. Tôi lại nhớ đến lũ trẻ con bản Củ Sẻo ngày nào, chúng chân trần, đầu trần chạy băng băng trong gió rét. Chúng cười quên hết đất trời khi khách xa cho kẹo và quần áo ấm. Mấy cụ già hồi đó không biết có còn không. Các cụ xuýt xoa khen mì tôm ngon lắm, một mực mời khách uống bát rượu men lá bên bếp lửa. Hơi nóng của bát rượu ấy còn đâu đây dâng đầy lên ngực tôi.
Hai chị em lên đường từ mờ đất. Xe buýt giờ đã chạy tận trung tâm huyện. Hai người, ba cái ba lô to vật. Đôi mắt Ngân như to hơn. Cô chạy vụt vào dãy hàng bày la liệt. Cô bảo: “Ôi chị ơi, vùng cao đây á? Chợ cũng như dưới mình, nhiều thứ lắm, khác là có nhiều củi và nấm khô chị ạ. Quần áo dân tộc đẹp chị nhỉ. Mì tôm đây bán đầy cả, mình mang thế có khi ế chị ơi”.
Thị trấn bây giờ đã chẳng thua gì dưới xuôi, có cả những tiệm giặt là, cắt tóc, karaoke. Bà con khắp vùng này đi chợ đã có chỗ ăn phở, mua sắm nhiều hơn dạo ấy. Nhìn mấy cậu bé túm dây kéo đám lợn đen trên cái gò đất, Ngân ngạc nhiên lắm. Nhất là khi thấy mấy cậu mặc phong phanh, chân trần, tóc bết lại, môi tím tái trong gió. Bọn trẻ này nhất định là trong bản Củ Sẻo rồi. “Ngân này, mấy cậu bé này phải dắt lợn đi từ ba bốn giờ sáng đấy, đường tắt đèo dốc, chứ đường thẳng xa gấp đôi”. Ngân nhìn xuống đôi bốt lông ở chân mình rồi im lặng. Hai chị em bốc đồ lên cái công nông cũ của Chủ tịch xã Tả San. A Chúng mắt một mí, người rắn chắc như cây rừng chào đón nồng hậu rồi lái xe cho nhà báo về trung tâm xã. “Hai mươi mấy cây số đấy, hai cô ngồi chắc nhá, ngã là cái chủ tịch này không có đền nổi đâu”.
Tôi hít căng khí núi rừng, lòng xốn xang khi trở lại nơi này. Xe đi sâu vào một khe núi. Đường đất sống trâu gập gồ, có đoạn như chạy thẳng xuống vực. Ngân túm chặt tay tôi: “Eo ơi, nhìn sợ thế! Ngày xưa chị thường trú ở đây 5 năm sao?”. “Ừ, giờ đường còn khá hơn rồi anh A Chúng nhỉ, mà có vẻ A Chúng trẻ hơn mình đấy?”. “Vâng, giờ xã xây trụ sở xã đẹp lắm, trường học cũng được xây, chỉ còn khu lẻ trong bản là khó khăn, em mới ba mươi thôi chị, nhìn em già thế thôi, hồi chị ở trên này em có biết”. “Củ Sẻo giờ ai làm trưởng bản vậy? Hồi đó già Lâng làm uy tín lắm”. “Già Lâng mất lâu lâu rồi chị à! Bây giờ là người uy tín Sao Chang làm trưởng bản”. “Sao Chang nào nhỉ, có phải ông lang cắt thuốc nam không?”. “Vâng đúng đấy chị, năm ngoái lũ to, dịch tả, mình ông ấy cứu cả bản, chỉ tội sau lũ, Củ Sẻo lại nghèo như xưa mất rồi”…
Tôi bỗng nghẹn lòng. Nhớ những đêm dạy miễn phí xóa mù cho trẻ con người già trong bản xong, tôi ngồi lại nghe già Lâng kể chuyện ngày xưa. Lúc ấy ông Sao Chang làm y tế bản. Già Lâng có hai con trai đều là liệt sĩ, ông ở với con trai nuôi. Nhà nước làm cho nhà tình nghĩa nhưng ông không nhận, ông ở cái nhà lợp tranh nhỏ sát bìa rừng. Già am hiểu nhiều chuyện đời, cùng với thầy mo A Dứ là hai người cất giữ linh hồn bản Củ Sẻo. Tôi được người Củ Sẻo nuôi cơm, cho nước uống, và kể nhiều câu chuyện, nhiều năm. Khi ấy, tôi không nghĩ rằng, đó là tài sản quý giá của mình. Bây giờ, đi trong dòng người ngột ngạt, tôi nhớ lắm, thèm lắm cái cảm giác ngồi chầu bên bếp lửa của một bà mẹ, đợi ngô chín, nhìn lũ trẻ vật nhau ra đất cười ran.
Từ ủy ban xã vào Củ Sẻo mới thực sự khó khăn. Đường rừng, chỉ có thể đi xe máy hoặc đi bộ. Xã cử hai thanh niên chở hai chị em trên cái xe uyn to kêu khồng khộc.
Củ Sẻo hiện ra dưới nắng. Cảnh sắc không khác xưa là mấy. Chúng tôi đến thẳng lớp mẫu giáo. Lớp lợp ngói, quây tre và cót ép, có chừng ba mươi đứa trẻ từ ba đến năm tuổi. Cô giáo ra chào. Lũ trẻ túa ra. Lác đác có em đi chân đất, mặc mỗi cái áo mỏng. Cô giáo Thào Trang bảo: “Cảm động quá, được đón các chị. Lớp em vừa mới được đoàn từ thiện lên tặng áo đấy”. Ngân đi phát cho mỗi em hai đôi tất, gửi cô trò ít bánh kẹo liên hoan rồi chúng tôi vào bản. Trưởng bản Sao Chang thật thà bảo: “Ố la la, được gặp lại cái nhà báo này vui quá! Cả cái bản này nhà ai cũng có cái ảnh nhà báo chụp cho. Già Lâng mất, ảnh thờ là do nhà báo chụp tặng hồi nọ đấy, đẹp là!”.
Nhiều người trong bản đến chơi. Trưởng bản sai thanh niên nấu nồi mì tôm to giữa nhà, mời tất cả mọi người cùng ăn, coi như mừng khách đến. Ngân vui lắm vì thoát khỏi nỗi lo ế mì. Tối hôm ấy, hai chị em xin ngủ lại nhà một phụ nữ hoàn cảnh khó khăn. Chị Dứa chồng mất sớm, một mình nuôi con ăn học. Chị Dứa nói về đàn trâu của bản, đã có ba con chết rồi, cả bản khóc, trâu thịt ra không ai nuốt nổi. Ngân đã có việc cho ngày mai, sẽ dự họp cùng bà con, chỉ cho bà con cách ủ rơm cho trâu bò ăn trong ngày giá rét, cách giữ ấm cho chúng. Những kiến thức của một kỹ sư nông nghiệp làm báo không bị phí. Thế rồi cuốn vào công việc của bản, hết việc đàn trâu lại đến chuyện gieo rau xanh. Bà con cứu được trâu thì vui mừng lắm, giữ Ngân ở lại. Ngân cũng giục tôi về trước, ở lại ăn Tết với nơi này. Ngân chìa cho tôi xem cuốn sổ tay dày đặc chữ, ghi đủ những điều đã hỏi, đã nghe được.
Buổi sáng ấy, Ngân tiễn tôi ra đầu bản Củ Sẻo. Công việc ở bản, bài vở gửi về tòa soạn cũng xong rồi. Hai chị em leo lên con dốc nhỏ. Trước mắt là một thung lũng hoa mận trắng trải dài. Đẹp quá sức tưởng tượng. Ngân nhảy lên reo rõ to:
- Từ bé, em chưa bao giờ vui thế này đâu chị ạ! Chị về nhớ qua nhà em nhé. Xong Tết em về.
- Vâng, viết bài xong em tìm chồng luôn, được không chị?
Biết là Ngân đùa, nhưng tôi cũng gật đầu vì vui. Nhìn thảm hoa trắng tinh khôi, rung rinh trước gió tôi yên tâm ra về.
Chiều mồng hai Tết, Ngân gọi: “Chị ơi, ra ngay bến xe đón em nhé”. Tôi vội vàng dắt xe ra đường. Chắc Ngân có nhiều điều để kể. Ngân búi tóc gọn gàng, mặc cái áo phao đỏ, tay cầm cành mận trắng vừa xuống xe, đi đôi giày bệt. Suýt không nhận ra Ngân “sành điệu” hôm trước. Ngân lao đến ôm chầm lấy tôi thốt lên: “Ôi chị ơi, em về rồi!”. Tôi ngạc nhiên thấy Ngân khóc. Ngân bảo: “Chị xách hộ em đồ đi. Hoa mận đẹp không chị? Hoa của thung lũng chị em mình đứng đấy”. “Ăn Tết ở đấy có vui không?”. Ngân nói như reo: “Em đi khắp các nhà gói bánh, cùng bọn trẻ con đi chơi mọi chỗ”… Rồi Ngân lái xe, tôi cầm cành mận trắng, ôm bọc bánh chưng và quà Tết bà con tặng, có cả quả còn trang trí rất đẹp.
Ngân nói trong tiếng gió: “Em thấy mình lâu nay tệ quá! Lên đó mới thấy mọi người vất vả thế nào. Em sẽ không gội đầu ở hàng, không mua sắm nhiều nữa, tiết kiệm tiền ủng hộ trẻ con trên đó, chị ạ”. Tôi vui như chính mình được tặng quà.
Ngân nhảy chân sáo vào nhà. Tôi mang cành hoa mận cắm ở góc bàn. Lũ trẻ tíu tít chạy ra xem hoa. Tôi như đang đi trong thung lũng hoa mận trắng trên Củ Sẻo xa xôi.