1 Năm 1942, Văn Cao theo học dự thính tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam). Tuy chỉ học trong khoảng hai năm với tư cách tự do, nhưng theo nhận xét của các họa sĩ cùng thời, ông tỏ ra là một tài năng trong hội họa theo trường phái lập thể. Thời kỳ này, trên thế giới, chủ nghĩa lập thể đã rất phát triển nhưng ở Việt Nam, hầu hết các họa sĩ từng học Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vẫn đi theo lối vẽ hiện thực lãng mạn, như từ khi thành lập trường.
Tại triển lãm Salon Unique năm 1943-1944 ở nhà Khai trí tiến đức (Hà Nội), nhiều bức tranh sơn dầu của Văn Cao nhận được rất nhiều lời khen ngợi, như Cuộc khiêu vũ của những người tự tử, Cô gái dậy thì, Sám hối nửa đêm… Một số bức tranh khác của ông được người thời sau nhắc nhớ nhiều, như Thái Hà ấp đêm mưa (bột mầu, năm 1943), Phố Nguyễn Du (sơn dầu, năm 1945), Lớn lên trong kháng chiến (năm 1952)… Ông vẫn theo đuổi ngôn ngữ lập thể pha hòa phong cách của hội họa biểu hiện, với tính đa hướng của tiết tấu và nhịp điệu, cách biểu hiện đối lập giữa các mảng lớn đơn giản trên phông nền phức tạp hơn về chi tiết.
Có một thời gian dài, ông tạm dừng sự nghiệp âm nhạc đã rất thành công, tiếp tục đi sâu hơn vào nghệ thuật tạo hình: vẽ minh họa cho thơ, truyện ngắn, truyện dài, vẽ vignette cho các chuyên mục trên báo chí, trình bày sách. Ông cũng sáng tác nhiều tranh sơn dầu như Chợ vùng cao (năm 1970), Thanh niên vùng cao (năm 1978), Chân dung bà Băng, Chân dung nhà văn Đặng Thai Mai (năm 1977)…
Vẫn là yếu tố biểu hiện được bộc lộ rõ bên cạnh yếu tố lập thể, ở tác phẩm Chợ vùng cao, họa sĩ đã để những mảng mầu phẳng cam, trắng, đỏ giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh để phân tầng không gian trong tranh. Họa sĩ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định mà phân chia thành nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Đám đông trong chợ được sắp xếp dàn trải và vẽ bằng những nét đen. Ngay cả hình ảnh con ngựa cũng là một mảng mầu trắng. Yếu tố mảng-nét cùng gam nóng đã cho thấy một phiên chợ miền núi đông vui náo nhiệt, đồng thời gợi lên cảm giác về dòng tranh khắc gỗ dân gian đầy mầu sắc rực rỡ.
Trong tác phẩm Thanh niên vùng cao, ông phát triển thủ pháp và ngôn ngữ hội họa lập thể, sử dụng các đường nét và mảng mầu lớn, cô đọng, biểu hiện trong hình người thanh niên và con ngựa bạch. Phần nền phía sau là những mảng, hình đan cài lô nhô thể hiện bằng bút pháp lập thể, tương phản giữa đơn giản và phức tạp, giữa đơn sắc và đa sắc, tạo nên một bức tranh rành mạch trong ngôn ngữ thể hiện đồng thời chứa đựng chiều sâu nội tâm nhất định. Có thể coi đây là một trong những bức tranh rất đẹp về đề tài miền núi của Văn Cao.
Yếu tố lập thể được ông thể hiện càng rõ ràng hơn trong bức sơn dầu vẽ người thầy của mình, nhà văn Đặng Thai Mai. Không có quá nhiều chi tiết ngoài những mảng mầu đơn sắc, như nâu, đen, vàng, xanh, trắng. Lối phân chia mảng ở không gian phía sau làm người xem liên tưởng đến những sáng tác lập thể của họa sĩ W.Kandinski. Nhưng chỉ cần vài đường nét được diễn tả trên khuôn mặt nhân vật và bàn tay chống cằm, đã thể hiện rõ sự suy tư của một trí thức lớn.
Dùng chữ Văn làm bút danh, trong rất nhiều sáng tác đồ họa mà điển hình là thiết kế bìa sách, ông tập trung đi sâu khai thác những biến thể của dạng chữ, chú trọng đến kiểu, mầu, cỡ chữ và bố cục… Nhiều mẫu chữ, kiểu chữ trên bìa sách do ông sáng tạo, cho đến nay, ta thấy vẫn có nét hiện đại, được các họa sĩ thiết kế tiếp tục phát triển.
![]() |
| Bìa của ấn phẩm Búp sen xanh, Nhà xuất bản Kim Đồng năm 1984, do Văn Cao thiết kế và minh họa. Ảnh: Hoàng Hương |
2 Cuộc đời Văn Cao là một chuỗi thăng trầm. Sâu thẳm trong ông là sự uyên bác, một tâm hồn phong phú, lãng mạn nhưng không kém phần kiêu bạc. Văn Cao là một tài năng hiếm có cả về thơ ca, nhạc, họa. 16 tuổi, ông đã sáng tác bản nhạc đầu tay Buồn tàn thu (1939), 18 tuổi ông soạn bản Thiên thai (năm 1941), 19 tuổi soạn Bến xuân (năm 1942), 20 tuổi viết Trương Chi (năm 1943)…
Trong những bản hùng ca như Tiến quân ca, Bao chiến sĩ anh hùng, Hải quân hành khúc, Không quân hành khúc, Bắc Sơn, Sông Lô,… ca từ ông viết mang đầy tính tượng thanh, tượng hình, nhằm miêu tả không khí hào hùng đánh giặc, đối lập hẳn với hình ảnh thơ mộng, lãng mạn, có phần cô đơn của những bản tình ca ra đời trước Cách mạng Tháng Tám.
Yếu tố hội họa trong những bản tình ca của ông thường làm người ta liên tưởng đến những bức tranh thủy mặc phương Đông, với gam mầu trầm buồn, sâu lắng. Trong thời kỳ hình thành và phát triển của tân nhạc, Văn Cao cũng không phải là chàng nhạc sĩ trẻ tuổi độc nhất bị ảnh hưởng bởi thơ Đường. Qua nhạc phẩm Bến Xuân, Thiên thai,… ca từ và giai điệu đã "vẽ" nên khung cảnh dường như chỉ có trong cổ tích, ghi dấu ấn riêng của người nhạc sĩ-họa sĩ tài hoa.
Có thể thấy sự uyên bác, mẫn cảm của nhạc sĩ Văn Cao với cái đẹp và thấu hiểu nó trên nhiều khía cạnh cảm xúc, bộc lộ qua các hình thức nghệ thuật khác nhau. Trong âm nhạc, thi ca, tiếng Việt ngân lên lãng mạn, giàu hình ảnh, âm thanh, gợi liên tưởng mạnh mẽ. Còn trong hội họa, ông tìm tòi các biểu hiện ngôn ngữ của hình thể, sự khái quát về thị giác, của mảng và nét, với mầu sắc tinh giản, được học hỏi và kế thừa giữa phong cách tạo hình của nghệ thuật phương Tây và phương Đông. Nó cũng thể hiện tính đa hướng trong con người nghệ thuật Văn Cao: âm nhạc với giai điệu, ca từ vô cùng diễm lệ, kỳ ảo, bay bổng; hội họa lại khúc chiết, thâm trầm.
Những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa hội họa và âm nhạc của Văn Cao chính là biểu hiện của nhân cách văn hóa phong phú trong con người nghệ sĩ.
