Khổ vì chi phí vặt vãnh
42 tuổi, Nguyễn Đức N, chủ một công ty xuất khẩu sản phẩm gỗ của Hải Phòng, đang ở độ tuổi sung mãn của sự nghiệp. 24 tuổi, N bắt đầu kiếm sống bằng chân phiên dịch trong một doanh nghiệp nhựa của Đài Loan tại Hải Phòng. Chỉ sau sáu năm N đã nắm được cơ hội khởi nghiệp riêng. “Gỗ nguyên liệu rừng trồng ở Việt Nam quá nhiều, nhưng xuất đi thì chỉ dăm gỗ là chính. Tôi vay tiền nhập máy chế biến thành gỗ lõi cửa chống cháy, xuất đi Mỹ, giá cao hơn” – N nói đơn giản thế về sự hình thành doanh nghiệp của mình. Sáu năm sau đó, N tăng công suất lên gấp ba. 12 năm từ khi khởi nghiệp, doanh nghiệp của N hiện là nhà xuất khẩu gỗ lõi cửa đi Mỹ lớn nhất nhì phía bắc.
Thế nhưng, “đại gia” gỗ xuất khẩu này vẫn bật cười chua chát khi “chạm” đến chuyện quy định giảm gánh thuế phí cho doanh nghiệp. “Thuế chỉ có tăng, làm gì có chuyện giảm! Từ đầu năm 2016 đến giờ thuế xuất khẩu lại tăng thêm 20%” - N nói về khoản nộp lớn nhất và thường xuyên nhất của doanh nghiệp mình như thế. Cứ bảo nhiều dòng thuế nhập khẩu giảm theo hiệp định thương mại, nhưng thuế xuất khẩu mà tăng, thì doanh nghiệp vẫn chịu trận đều, đặc biệt với những doanh nghiệp xuất khẩu như của N.
Trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp, VAT vẫn giữ nguyên, thì lương cơ bản đã tăng, khổ nhất là thủ tục hoàn thuế lại quá chậm - N than thở về nỗi lo chi phí cứ tăng đều. Đã vậy, “cứ bảo bớt thủ tục thuế với hải quan, thực tế còn rắm rối hơn, đến nỗi cứ vài tháng lại phải cử cán bộ đi tập huấn một lần mà không theo kịp thay đổi. Tiền lễ lạt vẫn tốn, để hàng xuống tàu đỡ bị hành” – N bảo.
Cái thay đổi nữa “chắc là do áp lực quản lý lớn, mà giờ hơi tý chuyện là có kiểm tra. Từ lương cho đến cứu hỏa thì cơ quan quản lý đều phát công văn hỏi. Quên không trả lời là bị gọi điện nhắc. Nhắc rồi vẫn quên là có kiểm tra. Kiểm tra là thế nào cũng ra lỗi,…”. - N tâm sự.
Tất cả những thứ vặt vãnh ấy – như N nhẩm tính - làm “chi phí tăng thêm “bình quân cỡ 8%”. Đó là một con số đáng kể với N, vì khi chi phí tăng lên mà đơn hàng không tăng, giá xuất không tăng, thì có nghĩa lợi nhuận của công ty phải giảm.
40% lợi nhuận của doanh nghiệp đang phải đổ vào tuân thủ các loại thuế, phí.
Ảnh: Khánh An
Giờ thì N đang suy nghĩ nghiêm túc tới việc nhập dàn máy tự động cao hơn để giảm bớt số công nhân đang sử dụng, qua đó giảm chi phí. Nhưng không phải không có cấn cá khi N nghĩ tới cảnh hơn trăm công nhân mất việc, sự mệt mỏi căng thẳng khi nhập máy mới và làm sao nắm bắt được công nghệ tự động…
40% và nhiều hơn nữa
Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Tài chính, nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước những năm qua đều cơ bản đạt và vượt dự toán. Năm 2016, Chính phủ đặt ra mục tiêu thu ngân sách khoảng hơn một triệu tỷ đồng, tăng 11% so với dự toán và 14% ước thực hiện của năm 2015.
Lưu ý là, 2016 cũng là năm đầu tiên thu ngân sách của Việt Nam “được” đặt kế hoạch thu vượt triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20% GDP dự báo của năm. Kế hoạch tham vọng này xác lập, trong điều kiện nhiều dòng thuế bắt đầu giảm theo các cam kết tại các hiệp định thương mại, và giá dầu giảm sâu kéo nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu và dầu thô giảm mạnh.
Đặc điểm nữa cần lưu ý, trong vài năm gần đây, số thu nội địa đang dần chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách. Giai đoạn từ năm 2006-2010 thu nội địa chiếm khoảng 59%. Đến giai đoạn 2011-2015, số thu nội địa đã tăng lên, chiếm 68% tổng thu ngân sách. Đặc biệt, thu nội địa năm 2015 chiếm tới 74,4% tổng thu ngân sách.
Đẩy mạnh tăng thu nội địa đang là giải pháp quan trọng đỡ cho ngân sách và cũng là xu hướng chung của nhiều nước khi các hàng rào thuế quan dần dỡ bỏ. Điều đó là bình thường nếu nhìn từ góc độ quản lý của Nhà nước. Nhưng từ góc độ doanh nghiệp, thu nội địa đang góp sắc màu u ám vào bức tranh khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải.
Cho đến nay các cơ quan chức năng, thậm chí cả Bộ Tài chính, cũng chưa thống kê được cụ thể doanh nghiệp nội phải chi phí bao nhiêu khoản khi tham gia kinh doanh. Xu hướng xã hội hóa mọi mặt hoạt động, đầu tư, vận hành đang lên ngôi và do thế không khó khăn để thấy các nguồn thu của Nhà nước, các khoản chi phí của doanh nghiệp sẽ bị chia nhỏ thành nhiều loại nhưng chung đặc điểm là đều do người dân, doanh nghiệp chi trả. Áp lực tăng thu khiến xu hướng chung là giảm vài sắc thu, nhưng lại thu thêm nhiều khoản hoặc tăng thu ở khoản khác, khiến tỷ lệ nộp của doanh nghiệp bị tăng cao.
Ngày 26-5, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phạm Thị Thu Hằng cho biết, theo số liệu tổng hợp từ các các cuộc điều tra, thì “thuế, phí hiện nay chiếm khoảng 40% tổng lợi nhuận của DN, đó là mức cao so với khu vực”. Bà Hằng cho biết thêm là khảo sát VCCI tổng hợp từ nhiều nguồn cho thấy chi phí không chính thức của doanh nghiệp “chủ yếu liên quan đến các thủ tục kinh doanh có điều kiện, và hầu hết doanh nghiệp cho biết họ phải mất phí “bôi trơn”.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Đặng Huy Đông nhận xét, “nếu thống kê của VCCI là đúng, thì mức phí ấy là cao”, và “doanh nghiệp mất năng lực cạnh tranh ngay từ những chi phí thế này”. Nhưng đó cũng chưa phải toàn bộ sự nguy hiểm của áp lực thuế phí mà doanh nghiệp đang gánh.
Vì đặc trưng của doanh nghiệp Việt là quy mô nhỏ, hàm lượng công nghệ trong hoạt động kinh doanh vẫn còn thấp, chủ yếu là gia công hoặc kinh doanh thương mại, dịch vụ… tỷ suất lợi nhuận thấp tương ứng. Muốn thay đổi thực tế này thì lãi suất ngân hàng phải thấp và phải nâng được tích lũy của doanh nghiệp để kích thích tái đầu tư vào công nghệ. Nhưng với thực tế thu ngân sách, chi phí hoạt động chung và lãi suất ngân hàng như hiện nay, doanh nghiệp - chủ yếu là nhỏ - của Việt Nam gần như không còn cơ hội tích lũy. Khi doanh nghiệp thiếu tích lũy cũng đồng nghĩa với việc nền kinh tế sẽ trong cảnh “suy dinh dưỡng”, hoặc là đi vay để phát triển. Điều này, hẳn không nhà quản lý nào muốn, nhưng thoát ra bằng cách nào khi nhiệm vụ thu vẫn phải theo nguyên tắc năm sau cao hơn năm trước?