Trận địa đã im tiếng súng. Tuần vạch tán lá chui ra. Chiều xế rồi. Nắng đã tắt. Cả cánh rừng im lặng. Sự im lặng chết chóc. Đồng đội ông ai còn, ai mất? Người Tuần run lên. Giữa bom đạn của kẻ thù, ông không sợ hãi. Chỉ tâm niệm phải hạ được thật nhiều giặc. Tất cả anh em đều vậy. Không có chỗ cho sự sợ hãi. Chỉ một lòng muốn hất ngược kẻ địch về bên kia. Vậy mà giờ đây, giữa sự im lặng chết chóc này, Tuần cảm thấy rất sợ. “Có ai không?”. Chỉ có sự im lặng. Tuần vạch lá tiến về phía trước. Hình như có người, Tuần dừng lại. Vũ! Phía bên kia một thân cây lớn là Vũ. Thằng bạn nối khố thân thiết như anh em ruột của ông nằm yên. Hai chân nó cụt rồi. Mắt nó nhắm nghiền. Vũ chết rồi ư? Tuần lập cập bò lên thân cây. “Vũ ơi! Mày đừng chết”. Nước mắt tràn ra ướt đẫm má. “Đừng chết! Mày mới cưới vợ mà. Cái Hương mới mang thai. Mày còn phải đặt tên cho con nữa chứ!”. Cái tay dập nát chạm phải cành cây làm dậy lên một cơn đau xói óc. “Oàng”. Chết tiệt! Lại là pháo. Tai Tuần lùng bùng. “Uỳnh”. Mắt Tuần tối sầm rồi ngất lịm.
Khi Tuần tỉnh dậy đã là ba ngày sau. Bàn tay ông đã bị cưa cụt. Đồng đội tìm thấy ông bị đất vùi gần kín, chỉ hở ra mỗi gương mặt. Cả tiểu đội đã nằm lại quả đồi. Nghe tin ấy, Tuần ngất thêm lần nữa. Trung, Thanh, Lễ, Tịnh và Vũ... Chúng mày mới mười tám, mười chín thôi mà...
Nước mắt tràn ra cay xè. Ông Tuần lại trước bàn thờ nhỏ. Bàn thờ ông dành cho những người đồng đội đã ở lại mãi tuổi đôi mươi. Hơn ba mươi năm rồi, những khuôn mặt vẫn trẻ măng như thế. Tịnh hay cười. Thanh hay hát. Lễ nói ngọng. Vũ trầm tính. Trung hay kể chuyện hài. Tuần thắp một nén nhang lên bàn thờ. Ông lẩm nhẩm. “Tao xin lỗi, đã để chúng mày nằm lại đó. Nhưng tao không biết làm sao cả. Chẳng chút gì của chúng mày sót lại. Cánh rừng tan hoang. Cây cối cũng nát tan cả, nói gì con người. Cuộc sống khó khăn và xoay vần. Tao ở lại cũng chẳng sung sướng gì. Nhưng tao vừa nghỉ hưu. Tao sẽ lên thăm chúng mày. Đợi tao nhé!”.
Ông Tuần mở cửa bước ra ngoài. Trời tang tảng sáng. Vợ ông từ trong buồng bước ra. Mặt bà khoặm lại khi bước ngang ông. Tuần bước ra phía cổng. Ông đi về phía nhà bà Hương. Từ ngày Vũ mất, bà Hương ở vậy nuôi con. Ông thấy mình phải có trách nhiệm giúp đỡ bà Hương thay cho người đã khuất. Vậy mà Hiền, vợ ông cố tình không hiểu. Bà lấy cớ đá thúng đụng nia. Bà không dám nói thẳng rồi lấy cớ ông không biết kiếm tiền để chì chiết. Cuộc sống không giàu có đâu phải do ông lười biếng. Ông cũng đã cố gắng hết sức rồi chứ! Thằng Tùng, cái Phượng đều đã yên ấm gia đình. Ông bà cũng có một căn nhà cấp bốn để tránh nắng, tránh mưa. Vậy mà bà ấy vẫn không hài lòng. Suốt ngày bà cắm cảu, chê ông bất tài, vô dụng. Lứa tuổi ông, người ta thành đạt cả. Bà luôn đem ông ra so sánh với người này, người khác. Nhiều lúc, ông chán nản. Muốn bỏ đi thật xa...
Ông ngược Hà Giang vào một ngày trời đẹp. Quốc lộ 2 bám ven con sông Lô hiền hòa giờ đã đẹp hơn rất nhiều. Ông ôm chiếc ba-lô nhìn ra cửa xe. Nắng thênh thang những cây gạo cao vút. Đêm qua ông lại nằm mơ thấy Vũ. Nó cởi trần ngồi trên một gốc cây mục. Quả đồi trọc lóc. Nó đưa tay quệt mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt. “Nóng quá mày ạ. Tao trồng một ít cây cho mát mà không được. Bom đạn giặc phá thì chẳng nói, giờ đến dân mình phá. Cây nào mọc lên là chặt. Cây to thì chặt làm cọc rào. Cây bé chặt làm củi. Bọn tao bất lực rồi”. Ông giật mình tỉnh dậy, mồ hôi đang chảy ướt đẫm lưng áo.
Hơn ba mươi năm, cảnh vật thay đổi quá nhiều. Ông Dùng dẫn ông trở lại quả đồi ấy. Dùng là người bản địa. Khi cuộc chiến kết thúc, Dùng lập gia đình. Giờ đây, hai mái đầu đã bạc. Hai ông già dắt nhau trở lại quả đồi xưa. Một quả đồi không tên như biết bao ngọn đồi ở miền biên giới cực bắc này. Tuần gọi quả đồi số 3. Dùng gọi là đồi Năm thằng. Tuần lắc đầu. Có biết bao người đã nằm xuống, đâu chỉ năm thằng nó! Dùng dẫn Tuần leo qua hai quả đồi. Trơ trụi. Chỉ có những bụi mua dại mọc lưa thưa. Còn lại là những búi cỏ thấp. Tuần thấy khắp người râm ran. “Đây rồi” Dùng chỉ. Tuần thấy nhói lên trong ngực. Quả đồi trong giấc mơ của Tuần cũng không xác xơ đến thế. Nó trọc lóc. Bốn năm bụi mua cằn cỗi. Vài túm cỏ mọc lưa thưa. Tuần sụp xuống. Cơn đau quặn lên ngực. Ông lết về phía trước. “Chúng mày nằm ở đây sao. Hơn ba mươi năm rồi. Tao tưởng cây rừng đã lớn, che chắn chỗ chúng mày nằm. Như ngày xưa bọn mình nằm dưới gốc cây, nghe gió thổi và chim hót chứ!”. Tuần nằm gục xuống. Má ông áp xuống đất. Nước mắt rỏ xuống ướt đám đá xít vụn. Đá xít không ngấm nước. “Chúng mày khổ quá! Nắng nóng thế này làm sao mà chịu được!”. Một cơn gió nóng từ phía bên kia đồi thổi lại. Mắt Tuần hoa lên. Những gương mặt trẻ măng ùa đến bên ông...
- Tuần ơi!...
- Chúng mày kéo nó xuống đây!
Những khuôn mặt lòe nhòe rồi hiện rõ. Tuần đang nằm dựa lưng trong hào. Chung quanh là những người bạn cùng tiểu đội. Vũ đang cầm một túm lá cây phe phẩy quạt cho Tuần.
- Sao tao lại ở đây?
- Mày ngất. Bom nổ ngay cạnh. May mà nó không chém đứt chỗ nào!
- Nóng quá! Cho tao xin chút nước...
- Hết nước rồi. Pháo giặc phát quang cả rừng cây, dập nát nguồn nước, cắt cả đường chi viện. Phải chờ đến tối thôi...
- Không được! Để tao đưa nó xuống. Đợi đến tối thì chết à!
Vũ cúi xuống xốc Tuần lên vai. Tuần thấy mặt mũi xây xẩm. Mùi thuốc súng khét lẹt.
Tuần mở mắt thấy mình đang nằm trong bệnh viện. Dùng ngồi bên ông. Gương mặt già nua lo lắng. Tuần ngồi dậy. “Tao xin lỗi. Nhưng tao muốn nhờ mày một việc. Mày giúp tao làm thủ tục để được quyền chăm sóc những quả đồi ấy”.
Người ta thấy một ông già tóc bạc cần mẫn trồng cây trên những quả đồi. Người ta nói ông là một kẻ dở hơi, cuối đời không lo nghỉ ngơi mà vác tù và hàng tổng. Những quả đồi ấy là đồi chết. Pháo giặc làm cho đất chết rồi. Nước nguồn cạn cả. Trên đồi chỉ có đá xít nên cây cối không mọc được. Dân sống quanh đó bỏ đi hết rồi. Ông Tuần bỏ ngoài tai những lời nói đó. Ông vẫn cần mẫn trồng cây, chăm cây. Số tiền ông dành dụm cả đời, ông đổ cả vào ba đồi cây ấy. Nào đào hố, lót phân, mua giống... Nào dẫn nước về tưới cho cây. Một năm, hai năm rồi ba năm. Mầu xanh đã dần trở lại trên mảnh đồi ấy. Năm thứ tư, có tiếng chim hót đầu tiên. Một con chim họa mi từ đâu bay về hót trên cái cây cao nhất. Ông ngồi xuống thưởng thức. Một bản nhạc hay nhất mà ông được nghe.
Đêm hôm ấy, ông lại mơ. Giấc mơ giữa cánh rừng non hiện tại. Những tán cây mới vượt quá đầu người xanh mươn mướt. Tiểu đội ông ngồi quây quần bên nhau. Vũ ôm đàn ghi-ta, Thanh hát. Tất cả vỗ tay và cười. Nụ cười tuổi đôi mươi sung mãn.
Buổi sáng, có một người đàn bà khoác ba-lô lên đồi. Tiếng gõ cửa khe khẽ. Nắng sớm xuyên qua tán lá xanh non rơi xuống hiên nhà. Ông Tuần khựng lại. Bà Hiền bối rối cúi mặt. Bốn năm. Thời gian như nước suối trôi xuôi. Nhưng thứ nước ấy đã làm tóc bà Hiền bạc trắng. Những hờn giận, trách móc trong lòng bà luôn làm ông day dứt. Thế nhưng, ông không hối hận với quyết định của mình. Nhìn rừng cây vươn lên tươi xanh, ông tin mình làm đúng.
- Bà vào đi.
Bà Hiền thong thả ngồi xuống cuối giường. Ông rót cho bà ca nước. Bà cầm lấy.
- Hôm qua, bà Hương đến chơi. Chúng tôi nói chuyện đến mãi khuya. Toàn chuyện hồi trẻ. Bao nhiêu năm rồi, bà ấy vẫn chưa quên được ông Vũ.
- Vậy mà bà còn trách tôi.
- Đàn bà ai chả thế - Bà Hiền cười khẽ - Đêm qua tôi mơ. Ông Vũ về. Ông ấy bảo, rừng lên xanh lắm. Bảo tôi lên thăm ông một chuyến...
- Tôi xin lỗi vì bỏ một mình bà vất vả mấy năm nay.
- Tôi cũng xin lỗi ông.
Tiếng xin lỗi nhẹ như tiếng gió. Bà dựa khẽ đầu vào vai ông. Không còn vầng ngực và bờ vai vững chãi của tuổi thanh xuân. Chỉ còn hai mái đầu bạc đang kề sát bên nhau. Bốn năm qua rồi, giữa giận hờn và dằn vặt, người ta nhận ra thứ không thể thiếu là yêu thương. Và để bên nhau, người ta còn phải biết mở lòng tha thứ...
Ngoài kia, con chim họa mi cất tiếng hót. Tiếng hót trong veo của rừng.