Trung tướng Nguyễn Trung Thu ngày ấy đã bốn lần được phong danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
Hôm gặp ông lần đầu, vội quá chưa kịp hỏi gì. Nay có dịp về Đà Nẵng, tôi liền xin số, gọi ngay cho ông. Dù đang lúc cơm tối, ông vẫn không nề hà: “Đến ngay đi con!”. Thế là tôi bắt một cuốc xe chạy về khu Đảo Xanh 3 bên bờ sông Hàn xinh đẹp.
Tuổi thơ dữ dội và con đường binh nghiệp
Trung tướng Nguyễn Trung Thu niềm nở rót trà, nụ cười hiền và đôi mắt như vẫn ánh lên những ngày lửa đạn. Thời gian không nhiều, tôi hỏi chuyện thật nhanh để ông còn nghỉ ngơi. Tò mò từ lâu: “Sao quê ở Hòa Quý mà tuổi nhỏ chú đánh giặc ở Bình Dương giỏi đến vậy?”. Ông nhoẻn cười: “Mình sinh ra lớn lên ở Bình Dương chớ! Hòa Quý chỉ là nguyên quán thôi. Có gắn bó thông thạo địa hình tuổi nhỏ mới đánh được giặc”.
Ông chậm rãi kể. Năm 1946, khi Pháp tấn công Đà Nẵng lần thứ hai, mặt trận Non Nước vỡ. Người dân không chịu hợp tác với giặc nên rời quê tứ tán tìm nơi sinh sống mới. Bên ngoại tản cư vào Điện Ngọc, bên nội vào Bình Dương, Thăng Bình. Hai gia đình vốn quen biết nhau, từng hứa hẹn chuyện gả con kết nghĩa. “Mình may mắn sinh ra trong cái nôi giàu truyền thống cách mạng. Lớn lên giữa vùng đất toàn xương rồng, dương liễu, giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đứa trẻ nào cũng vậy thôi. Môi trường và hoàn cảnh lịch sử rèn nên mình chớ đâu phải tự nhiên mà gan dạ được!". Ông nói câu ấy nhẹ như không, nhưng đủ để hiểu phẩm chất gan dạ không đến từ thiên phú mà từ lửa thử vàng của cuộc chiến.
Sau khi người bác ruột đi tập kết, cha ông được phân công ở lại địa phương gầy dựng cơ sở. Giặc đàn áp, cơ sở cách mạng bị vỡ, gia đình mất liên lạc với tổ chức suốt nhiều năm. Đến 1963-1964 mới kết nối lại được. Khu 5 khi ấy là nơi bị đánh phá khốc liệt nhất. Phía Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định dần hình thành các lực lượng khởi nghĩa. Cán bộ về xã Bình Dương nương náu và ngôi nhà của ông trở thành căn cứ nuôi giấu cán bộ cách mạng.
Cha ông, một đảng viên lâu năm, đã dùng chính đứa trẻ trong nhà làm giao liên để tránh bị lộ. Và từ đó, cậu bé 10 tuổi bước vào chiến tranh theo cách không đứa trẻ nào trên đời đáng phải nếm trải. Ông kể: “Nhiều lần tiếp xúc với lính Mỹ, mình rút ra điều lớn: Bánh kẹo thì xin được, đạn thì ăn trộm được; nhưng tuyệt đối đừng đụng vào bi-đông nước và khẩu súng của tụi nó. Mất hai thứ đó là tụi nó bắn phá, đốt sạch cả làng để tìm”. Bọn trẻ làm giao liên, truyền tin, rồi… lân la lấy cắp súng, lựu đạn mang về cho du kích. Tôi hỏi: “Không sợ bị bắt sao, thưa chú?”. Ông bật cười hiền: “Có chớ! Con nít ai không sợ chết chớ. Nhưng mình không đánh chúng, chúng sẽ đánh mình thôi”. Ông kể chuyện đau đớn nhất là chị Thanh ở xóm bên, mới 14, 15 tuổi, khi bị phát hiện đang giao thư đã nuốt tài liệu để giữ bí mật. Địch mổ bụng chị để moi thư. “Chúng ác quá. Nhìn bạn bè, đồng đội, rồi cha mình hy sinh… thử hỏi sao không đánh lại chúng được chớ?”. Ông bắt đầu tập ném lựu đạn từ những quả lấy cắp của dân vệ. Ra các nỗng cát, ném thử coi có chết không. Không chết. Thế là đi ném thật.
Trong chiến tranh, may mắn thoát chết chỉ là một phần, phần còn lại là bản lĩnh, trí tuệ và lòng quả cảm. Thành tích của cậu bé Nguyễn Trung Thu khiến cả người lớn cũng phải nể: Bốn danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt xe tăng ưu tú và bắn rơi máy bay Mỹ khi chưa tròn 12 tuổi.
15 tuổi, ông nhập ngũ. Được đưa ra bắc học Trường Sĩ quan Lục quân, rồi Học viện Đà Lạt. Tốt nghiệp, ông tham gia chiến đấu ở Campuchia suốt 10 năm. Thông minh, quyết đoán, dày dạn kinh nghiệm trận mạc, được đào tạo bài bản, ông dần trở thành một trong những chỉ huy xuất sắc của QĐND Việt Nam.
Anh hùng LLVTND Nguyễn Trung Thu từng giữ những chức vụ: Tư lệnh Quân đoàn 3, Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Theo ông, làm người sĩ quan, người tướng thời bình khó hơn nhiều so với thời chiến. Thời chiến chỉ chuyên tâm đánh giặc. Thời bình đầy cám dỗ và nhiều thứ chi phối. Giữ được bản lĩnh, giữ tinh thần khỏi dao động không hề đơn giản.
Làm điều đúng cho gia đình và đất nước
Lần gặp mặt các nhân chứng lịch sử ở xã Bình Dương, các bà, các mẹ mừng rỡ khi thấy Trung tướng Nguyễn Trung Thu trở lại. Người nào cũng kể về một vài kỷ niệm, một lần ông cứu mạng, một trận đánh năm xưa gắn chặt đời họ với ông. Giữa vòng tay ấy, tướng Thu vẫn giản dị trong chiếc sơ-mi mầu huyết dụ quen thuộc, giọng nói khỏe, ấm và cách trò chuyện bộc trực của ông như giữ nguyên từ thời trận mạc.
Nhắc đến chiến công, ông cười: “Đời mình là một khúc quân hành”. Thời chiến mà, trẻ con cũng phải cầm súng đánh giặc. Không có gì cao siêu hết. Mọi chuyện đến rất tự nhiên. Làm điều đúng cho gia đình trước thì rồi sẽ làm điều đúng cho đất nước.
Bao tò mò của tôi về dũng sĩ diệt Mỹ từ lúc lên 10 đã được tướng Nguyễn Trung Thu giải đáp trong tích tắc. Hỏi là để được nghe trung tướng kể chuyện thôi, chứ khi ngồi đối diện với ông tôi đã tin điều ấy rồi.
“Dù rằng đời ta thích hoa hồng, kẻ thù buộc ta ôm cây súng”, sửa lại cặp kính, ông chợt hỏi: “Con có biết bài “Hát mãi khúc quân hành” không?”. Đây là một trong 12 bài hát truyền thống của QĐND Việt Nam. Ông vừa nói, tay đã với chiếc iPad trên bàn mở tìm bài hát của nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Chúng tôi trò chuyện trong tiếng nhạc hào hùng vừa đủ nghe. Ông kể, có lần ra Hà Nội chuẩn bị duyệt binh, rất tình cờ ông được hòa nhịp bài ca đó - kỷ niệm theo ông suốt đời binh nghiệp.
Tôi xin chụp một tấm làm tư liệu, ông vui vẻ nhận lời. Tôi đùa rằng, ông mặc quân phục chụp cho “ngầu”, ông mới chịu đi thay. Ông cười: “Chụp với đồ chi chẳng được”. Với ông, trang phục không làm nên vị tướng.
Tôi chợt nhớ một chuyến đi Trường Sa năm trước: Trên boong tàu, một đại biểu theo thói quen đã quàng vai một vị tướng. Ông tướng ấy lập tức ra hiệu dừng chụp và gỡ tay người kia xuống. Kỷ luật quân ngũ là vậy. Nghĩ đến đó, tôi liều hỏi: “Cho con quàng vai chú có được không?” Ông cười xởi lởi: “Con quàng chi cũng được!”.
Dù đã nghỉ hưu, mỗi ngày Trung tướng Nguyễn Trung Thu vẫn theo dõi tin tức, dõi thời cuộc như một nếp quen. Cả đời cầm súng đánh giặc, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, để dân có cơm no áo ấm, ông chỉ mong đất nước ổn định, người dân sống công bằng và không phải đối diện với kẻ thù nào nữa. Một mong ước giản dị, chính đáng của người đã xem nghiệp nhà binh như thiên mệnh.
Chúng tôi chỉ kịp trò chuyện chừng chục phút, vì tôi phải ra sân bay. Đà Nẵng chập tối, mưa lất phất như một lớp sương ướt mỏng. Khi nào có dịp, tôi nhất định trở lại, dành nhiều thời gian nghe tướng Nguyễn Trung Thu kể chuyện về chiến tranh, về những trận đánh Mỹ của cậu bé từ thuở mới lên 10 còn dang dở.