Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) 10 năm 2011 - 2020, xây dựng Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm 2021 - 2030 đã khẳng định: “Phát triển nguồn nhân lực được đẩy mạnh, nhất là nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu thị trường; phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ đạt kết quả tích cực”. Báo cáo cũng chỉ ra hạn chế, yếu kém: “Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển”, “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thật sự trở thành động lực phát triển”.
PGS, TS Hoàng Minh Sơn, Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho rằng, những nguyên nhân trực tiếp cho những hạn chế, yếu kém trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo là: Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa gắn kết chặt chẽ với đào tạo trình độ cao, chất lượng cao. Chính sách đầu tư và thu hút đầu tư cho đào tạo trình độ cao, chất lượng cao và phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo còn nhiều bất cập, mức đầu tư thấp và thiếu trọng tâm.
Theo PGS Hoàng Minh Sơn, yếu tố quyết định năng lực KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của mỗi tổ chức, doanh nghiệp (DN) hay mỗi quốc gia chính là nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao. Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, mà còn dẫn dắt sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại thông qua thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ, giúp chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Vì vậy, cần khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong đầu tư từ ngân sách. Đồng thời tạo ra các chính sách thuận lợi để huy động các nguồn lực cho thực hiện đột phá chiến lược này, thực hiện quan điểm: đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao gắn với phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo, tạo động lực chủ yếu dẫn dắt và thúc đẩy phát triển KT - XH.
TS Lê Duy Anh, Khoa Kinh tế phát triển, Đại học (ĐH) Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội đề xuất mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam có từ một đến ba trường ĐH nghiên cứu nằm trong top 100 thế giới, có chất lượng và uy tín quốc tế, cạnh tranh với các ĐH hàng đầu thế giới và khu vực. Ông Duy Anh giải thích, các quốc gia dẫn đầu thế giới về KHCN đều là quốc gia thịnh vượng, có trường ĐH nghiên cứu dẫn đầu trong cuộc đua về nghiên cứu và phát triển. Các trường ĐH nghiên cứu uy tín là hạt nhân phát triển, thúc đẩy tiến bộ KHCN và thương mại hóa sản phẩm, thu hút các nhà khoa học có trình độ.
Đánh giá cao mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế, ông Trần Lê Hưng, Trường ĐH Cầu đường Paris, Pháp, đề nghị không chỉ kết hợp giữa nhà khoa học, trí thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước, mà còn đẩy mạnh kết nối chuyên gia nước ngoài có đủ đạo đức và trình độ đến Việt Nam sinh sống và làm việc; có cơ chế thu hút và gìn giữ nhân tài, tránh chảy máu chất xám.
Đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện có 5/8 bậc đào tạo trong Khung trình độ quốc gia, có quy mô chiếm hơn 80% lao động qua đào tạo. Theo chiến lược và quy hoạch phát triển nhân lực, đây là bộ phận nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ cho phát triển đất nước nên luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Nhất là trong bối cảnh năng suất lao động của nước ta còn thấp so các nước trong khu vực.
Trong những năm qua GDNN được coi là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH). Mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, trình độ đào tạo và mô hình hoạt động. Trung bình mỗi năm, cả nước tuyển sinh được hơn hai triệu người. Tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt 85%, những trường có uy tín về chất lượng đào tạo nghề, có quan hệ tốt với DN thì tỷ lệ có việc làm là 100%; GDNN của Việt Nam từ chỗ chưa được Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp hạng, đến nay đã đứng thứ mức 90/158 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, tăng 10 bậc so năm 2019. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực GDNN đã góp phần thực hiện các mục tiêu chung của cả nước và mục tiêu nhiệm vụ của ngành, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển KT - XH của đất nước.
Tuy nhiên công tác tuyển sinh trong hoạt động GDNN vẫn còn khó khăn, thách thức, đặc biệt đối với các ngành nghề nặng nhọc, độc hại, ngành nghề đòi hỏi năng khiếu. Cơ cấu đào tạo chưa hợp lý. Công tác phân luồng sau THCS còn thấp so mục tiêu đề ra trong các nghị quyết của Đảng và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chất lượng, hiệu quả đào tạo ở một số cơ sở đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến năng suất lao động thấp. Người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại, có thể hoàn toàn không hữu dụng với nền kinh tế 4.0 hoặc đang dễ dàng bị rô-bốt thay thế trong tương lai gần. Việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, năng suất lao động thấp đang là vấn đề thách thức của Việt Nam để sẵn sàng cho một giai đoạn mới dựa trên nền tảng khoa học công nghiệp 4.0.
TS Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Giáo dục nghề nghiệp, Bộ LĐ-TB&XH cho rằng, để phát huy ý nghĩa, giá trị lâu dài của đột phá chiến lược, để đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tương lai phục vụ cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng như để có thể đáp ứng tốt trước những thay đổi của thực tế cuộc sống, thích ứng trong mọi hoàn cảnh, nhiều vấn đề đối với GDNN cần phải được xem xét, đề cập trong Đại hội XIII của Đảng:
Thứ nhất: Cần có báo cáo đánh giá khách quan, toàn diện và cụ thể các kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm về việc thực hiện ba đột phá chiến lược, trong đó có báo cáo đánh giá về GDNN để từ đó xác định các mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ phù hợp điều kiện, yêu cầu mới cần tập trung vào các đột phá cho giai đoạn 10 năm tới.
Bên cạnh đó, cần đánh giá thực trạng hiện nay “thiếu hụt trầm trọng lao động có kỹ năng nghề phù hợp”, từ đó trong tầm nhìn, định hướng phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo có kỹ năng phù hợp, cụ thể đến năm 2025 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75%, đến năm 2030 đạt 80%, tương ứng là tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đến năm 2025 đạt 30%, đến năm 2030 đạt khoảng 50%. Bởi xu thế phát triển GDNN hiện nay là theo hướng mở, đa dạng, linh hoạt, hiện đại với nhiều phương thức và trình độ đào tạo, vì vậy người lao động có nhu cầu học tập và nâng cấp kỹ năng nghề nghiệp suốt đời để tham gia hiệu quả vào thị trường lao động.
Thứ ba: Mục tiêu của Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025” là tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sau THCS và THPT vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước và địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế. Vì vậy cần đẩy mạnh công tác phân luồng, hướng nghiệp cả sau THCS và THPT.
Thứ tư: Phát triển GDNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng những biến đổi nhanh chóng của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy GDNN cần được ưu tiên bố trí nguồn ngân sách nhà nước, trong ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo và các chương trình, dự án của quốc gia hằng năm theo tinh thần của Luật GDNN, trong đó xây dựng “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững” với một trụ cột quan trọng là đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN.