Cây bàng không đỏ lá rải rác suốt mùa đông. Nó lặng lẽ và tinh nghịch giấu những chùm quả chín vàng dành dụm được suốt mùa thu trong tán biếc. Đột nhiên, vào một ngày cuối năm, khi những đám mây giấu mình trong màn trời xám ngoét, những đàn chim chiều thảng thốt kêu ngang trời, những đoàn tàu hối hả xình xịch chở khách ngược bắc, xuôi nam về quê. Cây bàng bắt đầu cựa mình, những chiếc lá thầm thì với gió, vàng lốm đốm, đỏ dần, cho đến một buổi sáng nó đỏ rực như một bông hoa khổng lồ, kiêu hãnh, lộng lẫy trước bao con mắt trầm trồ ngưỡng mộ. Cây bàng đứng đó, những chiếc lá đỏ mong manh run rẩy. Cho đến một hôm, không hề hẹn trước, một cơn gió lớn ào qua. Cả cây bàng thoắt rùng mình và ào ào trút lá. Dường như chỉ trong một khoảnh khắc, những chiếc lá đỏ ối chao trên mặt đất và thân cây trơ trụi, bẽ bàng. Tôi hụt hẫng, nuối tiếc.
Thiên đã đến vào một chiều như vậy. Chuyến tàu bắc nam như thường lệ ghé vào ga xép trong chốc lát. Thiên trẻ trung trong áo thun trắng, quần Jean xanh dương đứng giữa sân nhìn đăm đăm đám lá bàng đỏ ối trên nền gạch.
“Chị bán cho một con tem”.
Thiên nhìn tôi lơ đãng, cũng lơ đãng yêu cầu. Tôi hơi ngạc nhiên vì một hành khách trên tàu hỏi mua tem. Bình thường chỉ có người trong làng mua tem, gửi đi và nhận về những bức thư. Còn hành khách trên tàu, họ đến và đi ở hai thành phố lớn nhất nước, họ chẳng mấy khi có nhu cầu mua một con tem ở ga xép tỉnh lẻ.
“Sao không quét lá đi hả chị?”.
“Không quét vội, vì tiếc lắm!”.
Tôi nghĩ đó là một câu hỏi vô bổ, cũng trả lời một cách hững hờ vô bổ. Khi nhìn Thiên bước chân trên đám lá bàng đỏ ối, tôi đã ước mình có thể vẽ một bức tranh: Một thanh niên đang bước trên lá đỏ, trước mặt anh ta là những ô cửa toa tàu mở ra những khoảng trời thăm thẳm xa xôi...
Tôi nhận được thư của Thiên hai tuần sau đó: “Mình không biết bạn tên là gì, đành gửi theo địa chỉ nơi bạn làm việc. Mình là Thiên, học mỹ thuật trong thành phố Hồ Chí Minh. Bạn có hỏi là ở Hà Nội cũng có trường Mỹ thuật, sao phải lặn lội đi học xa thế không? Ừ, đó là một câu chuyện rất dài.
Đã hai năm rồi mình về nhà ăn Tết vào những ngày cuối cùng của năm. Năm ngoái mình đã đi qua và nhìn thấy cây bàng trong sân ga chỗ bạn. Khi đó nó đỏ rực như một bó lửa khổng lồ. Bạn đã bao giờ nhìn thấy phong cảnh nào đó khiến bạn nghẹn thở như khi gặp người tình chưa? Nó đẹp tuyệt vời bạn ạ! Đẹp đến nỗi khi nhìn thấy nó qua ô cửa toa tàu, tim mình nghẹn lại. Và năm nay mình lại quyết tâm trở về vào đúng ngày đó, mình hy vọng sẽ lại được chiêm ngưỡng nó kiêu hãnh như thế. Nhưng có vẻ như mình đã đến muộn. Tiếc thật đấy!”.
“Bạn đã đến muộn khoảng vài phút gì đó. Khi nó rụng hết lá một chốc, mình thấy bạn từ trên tàu bước xuống. Có thể bạn lỗi hẹn, cũng có thể nó không chờ được bạn” - Tôi đã viết lại cho Thiên như thế.
Trong những bức thư sau, tôi kể cho Thiên nghe về cây bàng. Thiên bảo vạn vật thú vị lắm. Hồi trước Pauxtopxki có một cây đèn không chao lạ lùng. Ông ấy đặt nó trên bàn làm việc. Nó tắt không phải chỉ vì riêng một rung động nhỏ nhất của không khí, mà thậm chí vì một cái nhìn chăm chú. Chỉ cần mải suy nghĩ và nhìn đăm đăm vào nó là ngay lập tức nó bắt đầu kêu lép bép một cách thảm hại, nhấp nháy, nhấp nháy rồi lặng lẽ tắt ngấm. Đến nỗi ông ấy phải tránh không dám nhìn nó đấy.
Tôi từng có một người bạn trai. Chúng tôi cùng là con nhà nghèo, bằng tuổi nhau, cùng học một lớp, ngồi chung một bàn và đi về chung chiếc xe phượng hoàng đen cũ. Mỗi ngày đi học qua ga xép, chúng tôi ngắm nhìn những con tàu ghé vào sân ga trong chốc lát, hành khách bước xuống mua vài thứ quà vặt, có khi chẳng mua gì, đơn giản chỉ để vươn vai và hít thở bầu không khí còn trong trẻo từ cánh đồng làng đưa lại. Trước đây, vào mùa hạ, thanh niên làng tôi thường kéo nhau ra đường ray ngồi chơi hóng mát. Khi có tín hiệu tàu về, họ dạt xuống sát mép ruộng, thích thú nhìn con tàu lao qua sầm sập. Biết bao con tàu đã đi qua làng, biết bao thanh niên làng cũng từ ga xép mà tỏa đi khắp mọi miền đất nước.
Suốt mấy năm trời tôi không thể nào quên buổi chiều mùa đông chăn trâu trên cánh đồng làng vi vu gió. Khi con tàu rầm rập lao về phía ga xép. Hùng, bạn tôi mải đuổi theo con sáo nhỏ cậu ấy nuôi, đã bị cuốn vào đoàn tàu và mãi mãi tuổi mười hai, không bao giờ lớn nữa.
Tôi đã mơ thấy Hùng trở lại thăm tôi vào đúng đêm sau buổi chiều Thiên bước xuống sân ga. Vẫn giọng nói của Hùng, vẫn niềm vui sôi nổi của tuổi mười hai, nhưng vóc dáng và gương mặt Hùng lại là Thiên, Hùng bảo đang học mỹ thuật. Hôm nào đó sẽ vẽ tặng tôi bức tranh về cây bàng lá đỏ...
Tôi xao động nhiều ngày với ý nghĩ ngớ ngẩn rằng. Liệu có thể linh hồn Hùng đã mượn hình hài của Thiên và trở về trong buổi chiều đó hay không? Liệu có thể nào chàng trai xa lạ kia là hiện thân của người bạn tôi đã mất?
Cho đến khi tôi nhận được thư của Thiên.
Tôi viết thư kể cho Thiên nghe về Hùng và cái chết đau buồn tuổi mười hai của cậu ấy. Tôi kể về khoảnh khắc kinh hoàng vô tận khi người bạn thân nhất của mình như một cánh chim lỡ nhịp bay và gió cuốn đi không thể nào cưỡng lại... nhưng không kể về giấc mơ đó.
Thiên viết thư cho tôi đều đặn. Phần lớn những bức thư chỉ kể về những việc cậu ấy làm, những gì cậu ấy nghĩ, những nơi cậu ấy đi và cả về một người con gái cậu ấy nhớ. Những bức thư, những kể lể đó hệt như một trang nhật ký bỏ ngỏ.
Tôi đã nhớ mong đến tê dại lòng mình những bức thư của Thiên...
Thiên gửi cho tôi cuốn “Bông hồng vàng và bình minh mưa” của Pauxtopxki”. Khi Pauxtopxki kể về những con tàu chở ông đi qua những miền đất lạ của nước Nga xa xôi, phong cảnh qua ô cửa toa tàu đẹp đến nỗi tim Thiên thắt lại. Thiên tưởng như mình là Pauxtopxki, có thể nhào qua ô cửa đó và ôm lấy những làng mạc, những cánh đồng, những dòng sông như ôm một người tình lâu ngày xa cách. Tôi đã đọc đến mỏi mòn những con chữ đó, rồi không hiểu vì sao một hoài niệm xa xôi, một khát vọng mơ hồ, mênh mang nào đó cứ luẩn quẩn trong lòng. Tôi day dứt, muốn bứt chạy khỏi ga xép, khỏi miền ký ức u buồn về người bạn thân đã mất. Và tôi cứ ngẩn ngơ nhìn những đoàn tàu dừng lại trong chốc lát, nghĩ những ô cửa kia đang mở ra những khung trời thăm thẳm xa xôi. Tôi hy vọng khuôn mặt sáng ngời của Thiên ló qua ô cửa và vẫy gọi.
Tôi không có nhiều chuyện để kể cho Thiên ngoài nỗi buồn thông thường của một cô gái trẻ với công việc đơn điệu ở một ga xép tỉnh lẻ. Cô ấy đã từng không còn ngưỡng mộ những con tàu đi từ sau cái chết của người bạn trẻ. Nhưng một hôm nào đó, những khát vọng về chuyến đi từ xưa trong cô trỗi dậy, và cô vội che đậy nó đi như đó là tội lỗi.
Tôi đành kể cho Thiên nghe về cây bàng. Về người lính trẻ làng tôi đã trồng nó trước khi lên tàu đi chiến đấu. Người lính đó đã trở về làng sau chiến tranh, lập gia đình và hạnh phúc. Cây bàng của anh vẫn đứng đó như chứng nhân của những chia ly và đoàn tụ. Lẽ ra tôi có thể bịa đặt rằng người lính ấy đã hy sinh. Như thế tàn nhẫn quá. Để làm gì, có thể đưa Thiên về vẽ cây bàng lá đỏ hay không?
Tôi đi về qua khoảng giữa cánh đồng, nơi trước đây Hùng tử nạn, nghĩ về một kiếp người mong manh trong bao la vũ trụ, nghĩ đến cây bàng trong sân ga, nghĩ đến cây đèn không chao của Pauxtopxki. và nghĩ nhiều đến một câu hát cũ: “Cho những con tàu đi mang bao yêu thương xuôi về bến đợi...”.
Tôi vẫn nhận được thư Thiên kể về những nơi mà cảnh đẹp khiến trái tim cậu ấy thắt lại... Tôi vẫn mơ về Hùng với vóc dáng và khuôn mặt Thiên.
Năm đó, cây bàng đỏ rực lá suốt một thời gian dài hơn thường lệ. Mỗi cơn gió nhẹ dù chỉ đủ lay một phiến lá cũng làm lòng tôi se thắt. Tôi phập phồng lo sợ nó sẽ khiến cây bàng trút toàn bộ những phiến lá đỏ tuyệt đẹp trước khi con tàu đưa Thiên trở lại.
...Những con tàu lần lượt dừng ở sân ga...
Khi con tàu cuối chiều rời đi, cây bàng lập tức rùng mình trút lá.
Lá ào ào rụng như những hạt mưa khổng lồ đỏ ối.
Thiên không trở lại.
Vào mùa xuân, sau kỳ nghỉ Tết, tôi nhận được một món quà. Đó là một bức lụa mầu vẽ cây bàng đỏ rực bên những ô cửa toa tàu. Những ô cửa toa tàu mở ra những khoảng trời xa xôi.
Và Thiên ở đó.