Tình yêu đẫm mùi than và đất đá

Chúng tôi trở lại mỏ than Hà Lầm ở Hòn Gai, Quảng Ninh. Mới hơn 2 giờ chiều, một nhóm thợ đứng chờ trả đèn và bình tự cứu cá nhân ở hành lang khi tan ca.

Thợ lò Phạm Hữu Thiện. Ảnh: THIỆN HƯNG
Thợ lò Phạm Hữu Thiện. Ảnh: THIỆN HƯNG

Áo thợ ướt sũng, than đen cũng ướt sũng dính vào da thịt. Thợ đào mỏ ở lò chợ, hay thợ lò khai thác than thì quanh năm cứ đen nhẻm cả gương mặt và cả cơ thể. Quanh năm họ đối mặt với đất, đá, than ào ào đổ xuống, nhất là khi lò sụt lở đá. Thợ mỏ luôn đối mặt với nguy hiểm rủi ro, và họ luôn bình tĩnh để xử lý những tình huống sụt đất, lở đá, và xả nước. Họ âm thầm gánh vác mọi trách nhiệm, âm thầm tận hiến tuổi xuân cho những năm tháng đẹp đẽ của mình cho mỏ vàng đen này.

Tôi trở lại mỏ, gặp lại Anh hùng lao động Nguyễn Trọng Thái (phong tặng năm 2021) với 29 năm thợ lò. Người anh hùng của than từng đối mặt với nhiều vỉa than, với nhiều sáng kiến để chinh phục vàng đen. Nguyễn Trọng Thái vẫn an nhiên, bình dị như làm thợ lò năm xưa; dù nay, anh đã lên làm việc ở phòng điều hành sản xuất. Vẫn bộ quần áo thợ lò, vẫn đi sâu sát những vùng khai thác dưới -(âm) 300 m, và mỏ Hà Lầm đã và đang khai thác chạm tới -400 m, tiến tới -500 m trong tương lai.

Tôi được trò chuyện với thợ đào mỏ Phạm Hữu Thiện. Nghề đào mỏ của anh chàng tên Thiện có vùng quê gốc tận Chương Mỹ, Hà Nội, anh đã quyết an cư lập nghiệp ở mỏ Hà Lầm và dành chọn đời cho tình yêu đất mỏ. Thiện mới 43 tuổi, có 20 năm làm thợ. “Nghề đào mỏ khó lắm, gặp khi tụt lò, hàng nghìnn tấn đá, lở, nước ập xuống, thì bọn tôi phải dùng gỗ phi 8, phi 10 chống đỡ. Tụt lò thì kinh hoàng. Hàng tấn đất đá đổ xuống, khi đó thợ mỏ phải củng cố lò gọị là “ đóng nhói”. Sau rồi mới chèn kích cho an toàn. Sau nữa mới thu dọn đất đá. Khoảng 20 m khối đá/ca”, Thiện kể.

42.jpg
Thợ lò giờ tan ca, chờ trả lại đèn và bình cứu hộ cá nhân. Ảnh: HOÀNG VIỆT HẰNG

Chẳng làm sao tính được bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của một đời thợ, một đời người rơi xuống? Một ca, với 7 hoặc 8 thợ, nếu như ước tính đào được 1 m dài gương lò trong một ngày. Thử làm phép tính cộng, một đời thợ trong một năm đi ca cùng với nhóm thợ của mình có thể, khai thác đường lò ước khoảng 360 m dài.../năm. Cho dù công việc khai thác than, than có tránh mình, thì mình không thể tránh được, hoặc lường được rủi ro trước gương than, do vậy mà kỷ luật, trách nhiệm của người thợ lò rất cao. Không riêng gì Anh hùng lao động Nguyễn Trọng Thái mà trên ngực áo người thợ đào mỏ Phạm Hữu Thiện từng được gắn nhiều huy chương, bằng khen của Thủ tướng chính phủ, và bằng khen của tỉnh, nhưng các anh luôn khiêm nhường sống, giống như bông lúa chín cúi đầu. Chính phẩm cách bình lặng, giản dị và khiêm nhường của những thợ mỏ đã làm nên một vùng than yêu dấu của Hạ Long, của người lao động cần lao.

Còn với thợ lò Định Trọng Dự, anh cũng có 10 năm làm thợ đào lò, rồi mới chuyển sang làm thợ mỏ, khai thác than. Đinh Trọng Dự, quê ở Thái Bình - nay là Hưng Yên, nhưng anh lập nghiệp ở Hà Lầm với người vợ tên Loan. Anh có hai người con và mơ ước gắn bó cả đời với vùng than ven biển này. “Tôi làm thợ mỏ quen rồi, nên không muốn thay đổi; dù 14 năm qua có lúc phải đối mặt với lò chợ, dốc lớn hơn 30 độ. Có thời gian dài, khi gặp phải đá và nước, làm việc cực khó, không đẩy nhanh hiệu quả, năng xuất thấp, cũng buồn lắm! Nhưng khi chinh phục được đất đá, làm ra than thì vui”.

Riêng quản đốc Nguyễn Văn Kiên, ở Phân xưởng cơ giới hóa 1, anh có 18 năm là thợ lò, rồi mới lên làm quản lý. Kiên nói “ Chúng tôi gắn bó với than lâu ngày, không thấy khó, không thấy khổ, có chăng là sự cố gắng của mình luôn được mỏ đền đáp xứng đáng. Anh em chúng tôi sẽ gắn bó với mỏ, để tận hiến và đóng góp cho ngành than của mình”.

Đến với thợ hầm lò, chúng tôi nghe bao nhiêu câu chuyện thân thiết. Khi làm việc vào mùa đông trong đường hầm lò thì rất ấm, mùa hè thì mát, lòng đất luôn mang lại hơi thở, sự sống cho thợ lò và thợ đào mỏ. Vào những ngày mưa và không mưa, ngày nắng nóng và không nắng nóng thì áo thợ mỏ vẫn sũng ướt mồ hôi trộn than. Than thấm vào cơ thể từng giây, từng phút. Mùi đất đá và than đã thấm đẫm tình yêu, than đã chan, rưới vào trái tim những người thợ mỏ. Và để đáp đền, đất và than đã trả ân nghĩa cho con người vùng mỏ, vùng biển xanh đen này với ngôi nhà và mái ấm đầy yêu thương.

“Vì mỏ Hà Lầm đã luôn nâng đỡ bước chân người thợ, nên trái tim thợ lò chung thủy với nghề này thôi”, Dự bộc bạch.

Có thể bạn quan tâm