Nghi lễ Lên đồng và bản sắc văn hóa
- Thưa bà, nghi lễ Lên đồng có ở nhiều nơi trên thế giới không. Và cộng đồng các nước đó quan tâm ở mức thế nào?
- Các hình thức Lên đồng hay saman giáo là hiện tượng mang tính toàn cầu và được coi là một hình thức thực hành tín ngưỡng của nhiều dân tộc như châu Phi, cộng đồng người Do Thái châu Phi (đặc biệt là Bra-xin và vùng Ca-ri-bê), Trung Đông, Thái Bình Dương, Nam và Đông Nam châu Á. Nghi lễ saman giáo Kut của Hàn Quốc trước đây cũng từng bị coi là một thực hành lạc hậu, mê tín, cần phải loại bỏ, nhưng họ đã thất bại bởi lẽ đây là những hình thức thực hành dựa trên nền tảng bản chất con người. Từ những thập niên cuối của thế kỷ 20, nghi lễ Kut đã được chính phủ chính thức công nhận là di sản quốc gia, phản ánh những khía cạnh quan trọng của bản sắc văn hóa và cần được lưu giữ, truyền bá cho con cháu và cho thế hệ tương lai.
- Có thể do tâm lý muốn “cởi trói” hoàn toàn cho hoạt động Lên đồng, người dân, thậm chí các nhà báo có thói quen gọi tắt di sản đang đợi UNESCO công nhận là Lên đồng, Hầu đồng. Là Ủy viên thư ký Ban Xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia về Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, bà có nhận xét gì về sự nhầm lẫn nói trên?
- Hát văn cũng như Lên đồng chỉ là một thực hành của tín ngưỡng thờ Mẫu. Việt Nam làm hồ sơ “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” thể hiện quan điểm nhất quán về một tập tục thờ cúng Mẫu của người Việt bao gồm nhiều yếu tố tín ngưỡng, nghi lễ, văn hóa truyền thống ở trong đó. Điều quan trọng là chúng ta nhấn mạnh đến những bản sắc văn hóa, tín ngưỡng, được trao truyền, kế tục giữa các thế hệ. Ở đây, không chỉ có Lên đồng, mà còn có cả lễ hội, cả việc đi lễ và cả một hệ thống tri thức, văn hóa truyền thống của người Việt hội tụ trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Nếu chỉ nhìn Việt Nam đệ trình hồ sơ này với nghĩa cởi trói cho Lên đồng thì cũng rất hạn hẹp. Chúng ta cần có cái nhìn rộng hơn về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong một chỉnh thể văn hóa.
- Một số nhà nghiên cứu nước ngoài đến Việt Nam đã đánh giá Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (cụ thể là Lên đồng) là một trong những di sản có sức hút nhất trong các hồ sơ quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể đệ trình UNESCO. Cảm nhận của các chuyên gia trong Hội đồng thẩm định hồ sơ thì sao?
- Nghi lễ Lên đồng dễ được khán giả chú ý bởi có sự kết hợp của âm nhạc tiết tấu sôi nổi, ngôn ngữ hình thể, có sức hút cả nghe nhìn và tính huyền bí.
Chúng ta đều biết rằng các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới có vô vàn di sản văn hóa phi vật thể có nhiều giá trị đối với cuộc sống tinh thần của họ. Theo tinh thần của Công ước 2003, điều quan trọng các cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân, công nhận loại hình đó là một phần di sản văn hóa của họ, được trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Di sản đó tạo ra cho cộng đồng, nhóm người ý thức về bản sắc và sự kế tục. Đối với di sản văn hóa phi vật thể, UNESCO khuyến cáo các quốc gia thành viên tránh sử dụng một số thuật ngữ vì có thể hiểu sai về Công ước như là đặc sắc, độc đáo, nổi bật nhất, nguyên gốc, xác thực.
- Theo bà, điều gì hấp dẫn nhiều hơn cả với người tham gia nghi lễ Lên đồng - âm nhạc, các lớp lang trình diễn, trang phục, sự ban phát lộc?
- Nghi lễ Lên đồng là một thực hành văn hóa dân gian, mang tính nguyên hợp, bao gồm nhiều yếu tố kết hợp: đức tin, âm nhạc, hành động nghi lễ, trang phục, sự ban tài phát lộc. Sức hấp dẫn của nó phụ thuộc vào người thực hành và người tham dự. Có người vì đức tin mà họ tham gia thực hành hay tham dự nghi lễ để cầu thần thánh phù hộ, có người mê âm nhạc, hát văn, có người đơn giản thấy vui, hấp dẫn, thích thú vì được nhận nhiều lộc... Qua đây, chúng ta thấy sức hút của Lên đồng đa chiều và ưu thế của nghi lễ này chính là khả năng lôi kéo nhiều người tham gia thực hành cũng như tham dự nghi lễ.
Giữ gìn để không nhàm hóa
- Gần đây nghi lễ Lên đồng đang được nghệ thuật hóa, phổ cập hóa cho mục đích giải trí. Người ta trình diễn Lên đồng trong nhà hát, cả trong quán cà-phê, show thời trang… Theo bà, liệu nghi lễ này có bị nhàm hóa, làm mất tính tôn giáo của đạo Mẫu không? - Việc trình diễn nghi lễ Lên đồng trên sân khấu mang tính nghệ thuật, theo tôi càng làm tăng thêm giá trị và sức hấp dẫn của nghi lễ này. Qua đó càng nhiều người biết đến, hiểu về tín ngưỡng cũng như về những thân phận con người vì căn số phải ra mở phủ trình đồng. Xã hội sẽ có quan điểm tích cực hơn khi đánh giá những ông đồng bà đồng, những người hát văn. Họ chính là những người gìn giữ và lưu truyền những giá trị di sản văn hóa Việt trong các thực hành của tín ngưỡng thờ Mẫu. Trình diễn lên sân khấu nên phát huy tối đa các yếu tố nghệ thuật của nghi lễ Lên đồng. Khán giả cần được thưởng thức màn trình diễn duy mỹ, tinh tế như một tác phẩm nghệ thuật. Còn những show mang tính nửa sân khấu, nửa nghi lễ theo tôi là phản cảm và còn vi phạm những quy trình và thể thức của nghi lễ dân gian. Làm nghi lễ thì phải “đúng kiểu”, nếu không sẽ bị các ngài “phạt”. Đã đưa lên sân khấu, thì nên tách khỏi nghi lễ và chỉ có phần diễn mang tính nghệ thuật. Giống như hát Then trên sân khấu trong các liên hoan hát Then, thuần túy là trình diễn đàn tính và hát độc lập với nghi lễ. - Nếu Hồ sơ này được công nhận di sản, Viện VHNTQGVN có phương hướng gì để bảo tồn và phát triển? - Đối với di sản tín ngưỡng thờ Mẫu, chúng tôi không hướng tới tổ chức các Liên hoan hầu thánh, tách nghi lễ ra khỏi bối cảnh của điện thờ Mẫu. Chúng tôi hướng tới việc khôi phục những yếu tố lễ hội bị mai một, tiếp tục tư liệu hóa những loại hình của di sản như hát văn, âm nhạc, tiếp tục hoàn thiện danh mục kiểm kê về các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Chúng tôi mong muốn có những biện pháp tích cực hơn nữa nhằm tôn vinh các nghệ nhân hát văn, hiểu thân phận và chức năng của những ông bà đồng trong việc thực hành nghi lễ Lên đồng và vai trò tích cực của các thành viên cộng đồng, của các thủ nhang đồng đền tổ chức lễ hội truyền thống tôn vinh các vị thánh của thần điện Mẫu. - Xin cảm ơn những chia sẻ của bà!