Chọn bối cảnh triều đại Vạn Xuân với các nhân vật chính là Lý Thiên Bảo - Lý Đào Lang vương, Lý Phật Tử, Triệu Quốc Chính, Phùng Hiền Anh... khi triều Lý Nam Đế vừa sụp đổ, nhà Lương phương Bắc vẫn tiếp tục dã tâm thôn tính, nhà tiểu thuyết đã tự đưa mình vào một thử thách: Viết cái gì? Thể hiện ý nghĩa gì trong bối cảnh bi tráng ấy? Đọc xong 16 chương/hồi của tiểu thuyết, bạn đọc mới thấy nhờ chọn không gian nghệ thuật ấy, nhà văn đã thể hiện được cái anh hùng, cái trí tuệ, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng khoan dung... của một dân tộc Đại Việt vốn yêu hòa bình, yêu chính nghĩa này.
Điểm nhấn của tiểu thuyết “Lý Đào Lang vương” là thời điểm một không gian nước Vạn Xuân nghìn cân treo sợi tóc. Trước tình thế ấy, tài năng của những chủ công Lý Thiên Bảo, chánh tướng Lý Phật Tử, quân sư Triệu Quốc Chính, sư phụ Phùng Hiền Anh… càng được thể hiện rõ. Họ rút quân vào rừng sâu chờ thời kháng chiến, đúng tính chất một cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện.
Họ luyện gươm đao, luyện cung tên giỏi đến mức từ hào nước lên mặt chòi canh phải đến tám chín mươi bước chân mà một người có thể liên tiếp sáu mũi tên bắn gục bốn năm lính canh. Họ thao luyện môn ném pháo vô cùng lợi hại. Những quả pháo đại họ tự chế bằng cách nhồi chặt diêm sinh hỏa hổ có sức công phá lớn rồi trộn loại nhựa cây hắc sơn bám dính nên sẽ là nỗi khiếp sợ của loài ngựa phương Bắc. Khi đối trận kỵ binh, chỉ cần ném thẳng quả pháo đại vào đầu ngựa lập tức dù ngựa chiến lão luyện cũng hoảng hốt tháo lui. Họ là những tráng sĩ luyện rèn có thể diệt được hổ dữ.
Khi giặc đến, tất cả những gì ở đất nước Vạn Xuân đều có thể là vũ khí. Những con trâu vốn dĩ hiền lành chỉ quen cày bừa nay đột nhiên thành những dũng sĩ: “Từ khắp ba mặt, hàng trăm ngưu binh lừng lững cặp sừng bóng loáng chĩa về phía trước sầm sập ào đến. Trên lưng các “ông” trâu, vài trăm dũng sĩ Vạn Xuân mình mặc giáp ngắn, đôi cánh tay vạm vỡ để trần liên tiếp rút ra những ngọn lao đồng phóng vun vút về phía trước khiến đám người ngựa vừa thoát chết kêu rú lên đổ vật xuống bãi sông”.
Họ đánh giặc bằng mưu kế, đánh vào lòng tham lam, đánh vào sự huênh hoang tự phụ, đánh vào sự chủ quan tự đắc: “Một loạt pháo lệnh nổ vang, những chiếc hòm gỗ bật tung nắp, những thanh mã tấu, đoản đao sáng loáng vung lên chém phầm phập vào binh lính trên thuyền”.
Họ đánh bằng kế mai phục, lấy ít địch nhiều, lấy cả địa hình địa vật, lấy cả hình sông thế núi làm phương kế chống giặc: “Đoàn chiến mã hung hăng lao thốc qua đỉnh đèo Cổ Mã bỗng... ầm… ầm… ầm… đất đá dưới chân đèo sụt toang từng hố lớn rộng vài trượng sâu hoắm khiến đám người ngựa lao thẳng xuống hố sâu. Tiếng ngựa hí vang trời. Tiếng người la hét loạn xạ”.
Giọng văn miêu tả như reo lên cảm hứng tự hào hòa vào cùng niềm tin chiến thắng!
Họ đánh giặc bằng trí tuệ với mưu sâu kế hiểm, mà với kẻ địch khôn ngoan, sành sỏi, độc ác nhất cũng không thể ngờ tới, nghĩ tới: “Toàn bộ dân phu, thợ đá được chia thành mười hai đội luân phiên xẻ đá bẻ dòng Ngưu Giang chảy sang bên kia núi Hy Bình. Thủy quân Bố Đa Ngai mười hôm nữa tất trở thành đám cua cá nằm trong chậu”.
Họ đánh giặc bằng lòng nhân từ. Họ đánh giặc vì lòng hòa hiếu. Đây là lời của Đào Lang Vương nói với hai viên mãnh tướng thủy bộ: “Đại chiến trước mắt không tránh khỏi thảm cảnh máu chảy đầu rơi. Giặc đã bị hãm vào đường cùng, quân ta càng phải chặt chẽ trước sau. Ta không thể nào giết sạch đốt sạch như bọn người phương Bắc. Ta chỉ ước muốn vua nước Lâm Ấp sớm hiểu đại nghĩa cầu hòa với Vạn Xuân ta”.
Họ đánh giặc bằng văn hóa. Trong lúc chuẩn bị chiến tranh vệ quốc, bao việc lớn phải lo, về dân sinh quốc kế, về sinh mệnh cả quốc gia... họ vẫn tổ chức lễ hội, như một cách rèn luyện tinh thần, một cách gắn nối mối đoàn kết, một cách động viên nâng cao sĩ khí.
Tiểu thuyết được viết với hai nguồn cảm hứng lớn: dạt dào niềm tự hào về truyền thống đại nghĩa, tự chủ, yêu nước và ngùn ngụt chí căm thù với kẻ xâm lăng tàn bạo, hiếu chiến, phi nhân. Mạch văn nhanh mạnh mẽ, đầy hứng khởi. Nhịp điệu khẩn trương dồn dập, khi chùng, khi căng. Cách tạo không khí chiến trận rất hoạt, người đọc như được đưa trở về chứng kiến một thời quá khứ. Đây là một tiểu thuyết rất đáng đọc. Không chỉ ở thời điểm Biển Đông dậy sóng hôm nay mà ở bất kỳ thời nào. Đọc để hiểu một thời lịch sử, để hiểu cách đánh giặc, hiểu tâm hồn, tính cách Việt đầy khát vọng hòa bình, yêu nước, khoan dung và rất quật cường, khí tiết và mạnh mẽ!