Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.
Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Những con số biết nói

Một nghiên cứu của dự án Ngăn chặn tác hại (Disrupting Harm-là dự án nghiên cứu quốc tế quy mô lớn được thành lập năm 2019, nhằm tìm kiếm các bằng chứng khả tín về hiện trạng bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em qua công nghệ. Dự án được tài trợ bởi Safe Online và thực hiện bởi UNICEF tại 25 quốc gia), cho thấy: 89% trẻ từ 12-17 tuổi tại Việt Nam đã dùng Internet trong ba tháng gần nhất. Trong số đó, 89% lên mạng hằng ngày, 88% sử dụng mạng xã hội và 87% dùng tin nhắn tức thời. Những con số này cho thấy trẻ em Việt Nam không chỉ “biết Internet”, mà đang thật sự sống trong môi trường số với tần suất rất cao.

Điều đáng nói, phần lớn trẻ em đang đi vào không gian mạng rất sớm, rất thường xuyên, nhưng hành trang phòng vệ lại mỏng. Báo cáo Disrupting Harm cho thấy: Dù nhiều trẻ có một số hiểu biết cơ bản về an toàn số, chỉ 36% nói rằng các em từng được cung cấp thông tin về cách giữ an toàn trên mạng. Đây là điểm yếu lớn, bởi môi trường mạng hiện nay không chỉ có cơ hội học tập, giải trí và kết nối, mà còn có nguy cơ bị bắt nạt trực tuyến, quấy rối, lừa đảo, xâm phạm quyền riêng tư, tiếp xúc với nội dung độc hại hoặc bị dụ dỗ qua các tính năng tưởng như rất quen thuộc như chat, bình luận, livestream hay video ngắn. UNICEF cũng lưu ý rằng mặt trái của quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam là sự gia tăng các rủi ro xâm hại trên mạng, bắt nạt trực tuyến, tiếp cận nội dung không phù hợp và nghiện thiết bị số ở trẻ em.

Ở góc độ an ninh mạng, vấn đề của trẻ em Việt Nam không đơn thuần là “dùng mạng xã hội quá nhiều”. Thách thức lớn hơn là cách các nền tảng số hiện nay được thiết kế để giữ người dùng ở lại càng lâu càng tốt. Trẻ em là nhóm dễ bị tác động nhất, bởi cơ chế gợi ý nội dung liên tục, thông báo liên tục, thuật toán kéo dài thời gian xem và các tương tác tạo cảm giác lệ thuộc. Khi một đứa trẻ đã quen với việc mỗi lần mở điện thoại là một lần được hệ thống “đẩy” cho đúng thứ mình thích, ranh giới giữa giải trí lành mạnh và bị dẫn dắt hành vi trở nên rất mong manh. Trong môi trường đó, một nội dung vô hại có thể nhanh chóng dẫn sang nội dung độc hại; một lời mời kết bạn có thể trở thành hành vi tiếp cận xâm hại; còn một đoạn video gây tò mò có thể là điểm bắt đầu của lừa đảo, thao túng hoặc thu thập dữ liệu cá nhân.

Khuyến nghị của Disrupting Harm cũng nhấn mạnh: Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào ngay từ khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng.

Sự vào cuộc của Nhà nước

Trước thực tế đó, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng một khung pháp lý và chính sách ngày càng rõ hơn để bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Nền tảng chung là Luật Trẻ em 2016, sau đó được triển khai bằng nhiều chương trình chuyên biệt. Chương trình mới đặt ra mục tiêu chuyển dịch hoạt động bảo vệ trẻ em từ thế bị động sang mô hình phòng ngừa và ngăn chặn chủ động, đồng thời hình thành một kiến trúc tổng thể gồm pháp lý, truyền thông, giáo dục, giải pháp công nghệ, lực lượng liên ngành và năng lực “miễn dịch chủ động” của trẻ em trên môi trường mạng.

Điểm rất đáng chú ý là cách Nhà nước Việt Nam đang can thiệp ngày càng sâu hơn vào cách các tập đoàn công nghệ vận hành tại thị trường trong nước. Nghị định 147/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ 25/12/2024, đã bổ sung hàng loạt yêu cầu mạnh hơn với các nền tảng mạng xã hội, kể cả nền tảng xuyên biên giới. Theo phần tóm lược chính thức của Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), các nền tảng phải chặn gỡ nội dung, dịch vụ vi phạm trong vòng 24 giờ, có biện pháp xử lý nhanh với nội dung vi phạm an ninh quốc gia, khóa tạm thời hoặc vĩnh viễn tài khoản, trang, nhóm, kênh thường xuyên vi phạm, đồng thời xác thực và định danh tài khoản người dùng bằng số điện thoại hoặc số định danh cá nhân.

Nghị định cũng yêu cầu chỉ những tài khoản đã xác thực mới được đăng bài, bình luận, livestream và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội. Đáng chú ý hơn, văn bản này còn nêu rằng trẻ em dưới 16 tuổi không được tạo tài khoản mạng xã hội, khi sử dụng phải được sự cho phép của người giám hộ và các nền tảng phải công khai thuật toán phân phối nội dung với người sử dụng.

Đây là bước chuyển quan trọng: Nhà nước không chỉ xử lý nội dung vi phạm, mà bắt đầu can thiệp vào cả cấu trúc vận hành, điều kiện tham gia và trách nhiệm của nền tảng.

Theo phần tóm lược chính thức của Nghị định 147, chủ trang, kênh, nhóm trên mạng xã hội phải chịu trách nhiệm quản lý nội dung đăng tải và cả phần bình luận trong không gian mình quản lý; nền tảng cũng phải cấp xác thực cho tài khoản, trang, kênh của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người có ảnh hưởng tại Việt Nam. Điều đó cho thấy nhà sáng tạo nội dung trong tương lai sẽ không chỉ được nhìn như cá nhân “làm nội dung”, mà như một chủ thể có trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt khi đối tượng tiếp cận có trẻ em. Với nhóm nội dung nhắm vào thiếu niên, trách nhiệm ấy càng phải cao hơn, vì chỉ cần một xu hướng độc hại lan rộng cũng có thể kéo theo hiệu ứng bắt chước rất nhanh.

Ba trụ cột chính của mạng lưới

Tuy vậy, luật pháp chỉ là một phần của lời giải. Nếu chỉ trông chờ vào việc gỡ bài, khóa tài khoản hay chặn nội dung, chúng ta sẽ luôn đi sau tốc độ phát triển của môi trường mạng. Vì thế, Việt Nam lựa chọn một hướng đi đúng: Song song với quản lý là tăng cường giáo dục kỹ năng số cho trẻ. Trong năm 2025, Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) phối hợp Meta và các đơn vị liên quan đã triển khai khóa học “Kỹ năng số và an toàn Internet dành cho học sinh THCS và THPT” trên nền tảng học trực tuyến mở. Trước đó, cuộc thi “Học sinh với an toàn thông tin 2023” được tổ chức trên toàn quốc nhằm giúp học sinh nhận diện nguy cơ mất an toàn trên mạng, với nội dung bao trùm từ bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng tránh nội dung xấu, phòng tránh tương tác có hại đến sử dụng mạng xã hội an toàn.

Từ góc độ người làm an ninh mạng và từng tham gia các hoạt động, dự án liên quan trẻ em, tôi cho rằng: Điều đáng lo nhất không phải là trẻ dùng mạng xã hội, mà là trẻ dùng mạng xã hội trong tình trạng thiếu người đồng hành và thiếu kỹ năng nhận diện rủi ro. Nhiều phụ huynh vẫn nghĩ chỉ cần con ở trong nhà, cầm điện thoại và không ra ngoài là an toàn. Nhưng thực tế, một đứa trẻ có thể bị tổn thương ngay trong phòng ngủ của mình nếu bị dẫn dụ qua tin nhắn, bị bắt nạt trong nhóm chat lớp, bị dụ bấm vào đường link lạ, hay bị cuốn vào những nội dung gây lệch lạc nhận thức. Tôi từng thấy nhiều trường hợp trẻ không nhận ra mình đang bị thao túng, vì đối tượng xấu không còn tiếp cận bằng cách thô bạo, mà thường bắt đầu bằng sự quan tâm, đồng cảm, trò chuyện vui vẻ hoặc một “thử thách” tưởng như vô hại. Đó là lý do vì sao bảo vệ trẻ em trên mạng không thể chỉ thực hiện bằng các biện pháp kỹ thuật hay hành chính, mà phải bắt đầu từ việc giúp các em biết nghi ngờ đúng lúc, biết dừng lại đúng lúc và biết tìm người hỗ trợ đúng lúc.

Vì vậy, nếu phải tóm gọn cách tiếp cận của Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng có ba trụ cột cần đồng thời hiện hữu. Thứ nhất, pháp luật đủ mạnh để buộc nền tảng và người tạo nội dung chịu trách nhiệm. Thứ hai, công nghệ đủ tốt để lọc, cảnh báo, phát hiện, hỗ trợ và can thiệp sớm. Cuối cùng, nhưng quan trọng nhất là giáo dục kỹ năng số đủ sớm để trẻ không trở thành những nạn nhân bị động ■

Cùng với việc siết nền tảng, cách quản lý hệ sinh thái nhà sáng tạo nội dung tại Việt Nam cũng đang thay đổi theo hướng ràng buộc trách nhiệm rõ hơn. Cốt lõi của cách quản lý hiện nay không phải là “cấm người sáng tạo nội dung”, mà là yêu cầu mọi hoạt động tạo ảnh hưởng phải gắn với tài khoản xác thực, chịu trách nhiệm pháp lý và có khả năng bị xử lý nếu vi phạm.

Có thể bạn quan tâm

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.