Tơ vàng óng ánh ai hong giữa làng

Tơ vàng óng ánh ai hong giữa làng

“Hỡi cô thắt dải lưng xanh/Có về Nam Định với anh thì về/Nam Định có bến đò Chè/Có nghề dệt lụa, có nghề ươm tơ”. Theo câu ca xưa, tôi xuôi đường tìm về làng Cổ Chất, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định cũ (nay là xã Ninh Giang, tỉnh Ninh Bình). Nơi yên bình ấy, có nghề ươm tơ, dệt lụa trứ danh được gìn giữ suốt bao đời nay.

Vàng son một thuở “cửu phẩm công nghệ”

Theo các bậc cao niên trong làng, nghề nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa ở Cổ Chất khởi nguồn từ thời nhà Trần, khi những cư dân đầu tiên đến đây khai khẩn vùng đất bãi bồi, lấy sợi tơ tằm dệt lưới đánh bắt cá trên sông. Cổ Chất là nằm ngay sát bờ sông Ninh Cơ, nơi có những dải đất phù sa màu mỡ, rất thích hợp cho nghề trồng dâu. Nguồn thức ăn lý tưởng giúp kén tằm Cổ Chất luôn to, mẩy, cho sợi tơ dài, óng.

Đến cuối thế kỷ XIX, khi bắt đầu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp sớm nhận ra tiềm năng của làng nghề. Gần thời điểm xây dựng Nhà máy Dệt Nam Định, người Pháp cũng cho xây dựng một nhà máy chế biến sợi tơ tại Cổ Chất. Đến nay, dấu tích nền móng vẫn còn.

Đỉnh cao của nghề ươm tơ Cổ Chất là khi cụ Phạm Ruân đem tơ đi dự thi tại một cuộc đấu xảo (triển lãm, hội chợ) do Phủ Thủ hiến Bắc Kỳ tổ chức năm 1942. Giữa tinh hoa làng nghề khắp nơi hội tụ về kinh thành Thăng Long, tơ Cổ Chất được vinh danh với giải cao mang tên “cửu phẩm công nghệ”. Tiếng lành đồn xa, ngôi làng trở thành trung tâm tơ lụa sầm uất của Đồng bằng Bắc Bộ.

Đến cuối thế kỷ XIX, khi bắt đầu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp sớm nhận ra tiềm năng của làng nghề. Gần thời điểm xây dựng Nhà máy Dệt Nam Định, người Pháp cũng cho xây dựng một nhà máy chế biến sợi tơ tại Cổ Chất. Đến nay, dấu tích nền móng vẫn còn.

Thuở ấy, bến đò Chè nườm nượp tàu thuyền. Thương lái từ khắp nơi, thậm chí cả từ Pháp, Nhật, cũng tìm về Cổ Chất đặt hàng. Người ta bảo, tơ Cổ Chất có sắc vàng tự nhiên rực rỡ đến mức không loại phẩm mầu nào có thể tạo ra được, khi dệt thành lụa sẽ cho ra những tấm vải vừa mát rượi vào mùa hè, vừa mềm mại, ấm áp vào mùa đông. Sự phát triển của làng nghề đã giúp thợ thủ công sống sung túc, tạo nên một ngôi làng trù phú bên dòng Ninh Cơ.

Bà Đoàn Thị Huê, chủ một cơ sở ươm tơ chia sẻ: Đúng như các cụ đúc kết “làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”, nghề “tằm tang” cực kỳ vất vả, kéo dài từ sáng sớm đến tối muộn. Tất cả các công đoạn từ phân loại kén, nấu kén rút sợi, quấn vào bát tơ đến đưa lên guồng, ghim mặt, tháo tơ và hong tơ đều được làm hoàn toàn thủ công.

light-berde-pastel-berde-navy-pastel-decorative-virtual-background-1.gif

Để có được một nén tơ đẹp, người thợ phải ngồi bên chậu luộc kén, đứng bên bát tơ suốt nhiều giờ đồng hồ, tay cầm đũa đảo kén trong nước sôi, tay nhịp nhàng điều khiển guồng quay. Trong không gian mịt mờ hơi nước, mồ hôi của họ lăn dài trên má, nhưng ánh mắt vẫn lấp lánh niềm vui mỗi khi sợi tơ mỏng manh được rút ra.

Tơ Cổ Chất nổi tiếng óng, đẹp, bền là do người làng có những kỹ thuật riêng, độc đáo được trao truyền qua nhiều thế hệ. Quan trọng nhất, người thợ phải cực kỳ khéo léo, tỉ mỉ và kiên nhẫn.

Bà Huê nhớ lại, thuở xưa, bước đến đầu làng đã thấy sạp tre hong tơ óng ánh, nghe tiếng lách cách khung cửi. Trẻ con 6-7 tuổi đã biết hái dâu, chọn kén, khi lớn thì thạo mọi việc của nghề ươm tơ. Cứ thế, nhà nhà, người người qua bao đời vẫn bền bỉ lưu truyền nghề của ông cha. Từ tơ sống đến sợi tơ trắng, vàng để dệt lụa là quá trình hong theo con nắng. Nắng càng to, tơ càng óng, đẹp.

Bởi vậy hằng năm, cả làng tất bật, tưng bừng như mở hội trong suốt vụ ươm từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch. Khắp làng óng ánh một màu tơ hong.

Vượt thoát vòng xoáy thị trường

Chuyện bà Huê kể đã trôi vào quá khứ. Trong cái nắng hanh hao của một ngày đông, tôi đi mỏi bước từ đầu làng, mãi mới hỏi thăm được vài nhà còn làm nghề ươm tơ.

Ông Phạm Văn Giang ở thôn Cổ Chất 1 cho biết, mấy chục năm gần đây, nghề mai một dần. Phần vì không cạnh tranh được với tơ công nghiệp siêu mảnh giá rẻ và các loại sợi tổng hợp, phần vì mất nguồn nguyên liệu tại chỗ là những nương dâu bạt ngàn ven sông Ninh Cơ.

Hiện tại, ngay cả nguồn kén ngoại tỉnh cũng khan hiếm, chỉ chủ yếu nhập trên Yên Bái về làm. Từ chỗ cả làng làm nghề ươm tơ, giờ chỉ còn vài chục hộ. Đám thanh niên lớn lên đi học, đi làm xa, hoặc vào làm công nhân các khu công nghiệp chung quanh hết cả.

to-vang-ong-anh-02.jpg
Nghề ươm tơ, dệt lụa qua nhiều đời làm nên nét riêng có ở làng Cổ Chất.

Như nhà ông Giang có 3 người con, không ai nối nghiệp cha mẹ. Hai con gái lớn người đi Nhật Bản, người ở Bắc Ninh, cậu út thì vào bộ đội. “Tôi nay 67 tuổi rồi, nghề thì vất vả, thu nhập thì bấp bênh, cũng chưa biết bám trụ được bao lâu. Rồi cũng sẽ đến lúc phải đóng bếp, bỏ cửi. Nghề cha ông truyền lại chắc không thể giữ được…”, đưa mắt nhìn guồng tơ, tiếng ông Giang chùng xuống.

Bước vào một xưởng ươm tơ hiếm hoi còn đỏ lửa trong làng, cảm giác đầu tiên là ngộp thở bởi hơi nước nóng và mùi luộc kén nồng đặc trưng. Trong không gian mờ ảo ấy, bà Nguyễn Thị Yến đang miệt mài bên lò ươm. Đôi bàn tay bà đã bợt trắng hàng chục năm ngâm trong nước nóng.

Bà tâm sự: “Nghề này nhọc nhằn lắm. Một cân kén giờ giá cao, mà ươm xong trừ chi phí than củi, điện nước, nhân công thì chẳng còn là bao. Nhiều lúc muốn bỏ nghề cho khỏe thân, nhưng cứ nhìn thấy cái guồng quay, thấy sợi tơ óng lên là lại không đành lòng”.

Tuy nhiên, giữa bóng hoàng hôn đang phủ xuống làng nghề, vẫn có những tia sáng hy vọng nhen nhóm. Cách đây vài năm, chị Phạm Thị Minh Hải, một người con Cổ Chất quyết định thành lập Hợp tác xã Lụa Cổ Chất, quy tụ các nghệ nhân lành nghề, còn sử dụng kỹ thuật ươm tơ cổ truyền, đồng thời không ngừng nghiên cứu thị trường, tìm tòi, ứng dụng công nghệ hiện đại cho ra đời các sản phẩm lụa cao cấp. Mẹ chị, bà Trần Thị Ngọc cũng bỏ nghề làm rèm, màn, chăn ga để hỗ trợ con gái.

Chị Hải cho biết, việc thành lập hợp tác xã nhằm gìn giữ nét đẹp nghề truyền thống của quê hương, chứ không phải tham vọng kinh doanh, làm giàu của mình. Với nền tảng kinh nghiệm hoạt động trong các lĩnh vực xuất khẩu và truyền thông, chị đang nỗ lực quảng bá, tìm “đầu ra” và đa dạng hóa sản phẩm tơ lụa Cổ Chất.

Việc thành lập hợp tác xã nhằm gìn giữ nét đẹp nghề truyền thống của quê hương, chứ không phải tham vọng kinh doanh, làm giàu của mình.

Chị Phạm Thị Minh Hải, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Hợp tác xã Lụa Cổ Chất

Tháng 10/2025, hợp tác xã được trao Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Tơ lụa Cổ Chất”. Đây là thương hiệu hiếm hoi trên cả nước được đăng ký gắn với địa danh, mở hướng phát triển sản phẩm ra thị trường trong nước và quốc tế.

to-vang.jpg
Sản phẩm vải tơ tằm thủ công truyền thống Chất Silk của Hợp tác xã Lụa Cổ Chất cũng được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao, có thể nâng lên 5 sao nếu xuất khẩu tốt.

Bên cạnh đó, sản phẩm vải tơ tằm thủ công truyền thống Chất Silk của Hợp tác xã Lụa Cổ Chất cũng được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao, có thể nâng lên 5 sao nếu xuất khẩu tốt.

“Từ 11 thành viên ban đầu, hiện hợp tác xã đã phát triển lên 17 thành viên. Hoạt động sản xuất được phân công cụ thể, chuyên môn hóa công đoạn cho từng hộ để nâng cao hiệu quả. Mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi bây giờ là phát triển thị trường trong nước, nơi đã hàng chục năm nay tơ lụa Cổ Chất vắng khách hàng. Chúng tôi định hướng hạn chế không xuất sợi tơ thô nữa, mà phải sản xuất thành phẩm như vải lụa, khăn lụa, quần áo… để nâng cao giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ trên các sàn thương mại điện tử”, chị Hải chia sẻ.

Trên những bước chân rời làng Cổ Chất, nhìn những vòng quay đều trên guồng tơ, tôi bất chợt nghĩ, sức sống của làng nghề này vẫn âm thầm và bền bỉ như chính sợi tơ, guồng tơ kia vậy. Sợi tơ tằm Cổ Chất, sau bao thăng trầm, đang nỗ lực hòa mình vào dòng chảy của thời đại mới, để bên dòng Ninh Cơ lộng gió, vẫn óng ánh tơ hong giữa làng.

Chị Phạm Thị Minh Hải, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Hợp tác xã Lụa Cổ Chất cho biết, cái khó nhất bây giờ là đi tìm “chân dung” khách hàng, do bao lâu nay sợi tơ xuất đi đều qua thương lái, trung gian. Khi sang đến Trung Quốc, Lào, Thái Lan, không ai biết sợi tơ được sản xuất thành những sản phẩm ăn khách gì. Bởi vậy, chị đang cố gắng “theo dấu” sợi tơ quê hương, nắm bắt xu hướng và thị hiếu xã hội để trước mắt là duy trì nghề truyền thống, về lâu dài là phát triển, nâng tầm thương hiệu tơ lụa Cổ Chất tại thị trường trong nước và quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Về xưa cùng tuấn mã

Về xưa cùng tuấn mã

Trong lịch sử dân tộc, hình tượng ngựa được tôn vinh gắn với sự vững bền của xã tắc qua ngựa đá trong thơ của Vua Trần Nhân Tông, bài “Tức sự”: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Nhà sử học Trần Trọng Kim dịch: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng”.

Lối vào làng Yên Thái xưa nổi tiếng với nghề làm giấy dó.

Cung xuân chếnh choàng tơ sen

Trước thập niên 90, phố Thụy Khuê có đường tàu điện khá dài (3,3km) chạy lượn ngoằn ngoèo theo dòng sông Tô Lịch cũ xuống tận chợ Bưởi. Nhà thơ Phan Vũ đã từng viết: “Toa xe điện lên đèn/Người soát vé áo bành tô sờn rách/Lanh canh/Lanh canh/Ai xuống Bờ Hồ!/Ai đi Mơ!/Ai lên Bưởi!”.

Học sinh tham quan triển lãm ảnh “Rạng rỡ tên Người” nhân dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Báo Nhân Dân tổ chức. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân

Từ sự đúc rút kinh nghiệm trong nước và các nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Có sự ủng hộ, đồng lòng của lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong.

Ra biển "đi buôn" trước đổi mới

Ra biển "đi buôn" trước đổi mới

Trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026, tôi đến thăm Đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm. Bên chén trà thơm, ông kể chuyện đi giao thương với các nước tư bản trước thềm đổi mới mà ông cho rằng lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng lúc bấy giờ đã góp phần giải cứu cảnh đói cơm lạt muối thời điểm này.

Trí thức Việt tại Bỉ và Luxembourg mạnh mức nào?

Trí thức Việt tại Bỉ và Luxembourg mạnh mức nào?

Chiều muộn 20/3/2025, một chiếc xe chở 5 người Việt từ Antwerpen (Bỉ) thẳng hướng Luxembourg, đưa những đại diện “chất xám Việt tại Bỉ” sang ghép đội hình với “chất xám Việt ở Luxembourg” để lập Hội Trí thức Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg (ViLaB). 

Đồng lúa xanh rì, nơi anh Thanh cùng bà con nông dân tạo nên trải nghiệm độc đáo cho thực khách. (Ảnh: NVCC)

Từ bữa ăn nghìn đô giữa ruộng

Khi nhà hàng The Field của anh Phan Xuân Thanh (xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, nay thuộc phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng) bán trải nghiệm ẩm thực-văn hóa trọn gói trên cánh đồng với giá hơn 1.000 USD/khách, nhiều người tặc lưỡi “Chắc ăn may!”.

Cụ Nguyễn Thị Thơm, một “chứng nhân thế kỷ” của chợ Gò.

Đầu năm tôi đi chợ Gò

Sáng mồng Một Tết, sương còn vương những cánh mai vừa hé, từng dòng người đã rộn ràng kéo về chợ Gò. Đi chợ không để mua bán, mà gửi ước vọng cho một năm mới an lành.

Cánh cửa rộng mở từ kinh tế Halal

Cánh cửa rộng mở từ kinh tế Halal

Kinh tế Halal toàn cầu đang tăng trưởng khoảng 5% mỗi năm và hướng tới quy mô 10 nghìn tỷ USD năm 2028. Trước dư địa rộng mở đó, Việt Nam đã có bước chuyển mạnh mẽ trong cách tiếp cận. Từ vị thế “thị trường ngách” mang tính thử nghiệm, Halal đã trở thành chiến lược góp phần đa dạng hóa không gian phát triển kinh tế đối ngoại.

Mùa xuân đầu tiên nơi đỉnh lũ đi qua

Mùa xuân đầu tiên nơi đỉnh lũ đi qua

Khi phù sa chưa kịp lắng trên những dòng sông, người miền trung đã gạt đi dấu bùn còn đọng trên vách nhà để đón xuân. Nơi từng là đỉnh lũ, cuộc sống đang âm thầm sinh sôi với những mái nhà mới được dựng lên, lò bánh đỏ lửa trở lại, ruộng vườn bật mầm xanh.

Chiến sĩ Trường Sa đón nhận những món quà ấm ápGửi mùa xuân ra đảo". Ảnh nghĩa tình của Chương trình “: Nguyễn Phượng (CLB Agribanker)

Xuân sớm Trường Sa

Trường Sa - Xuân đến cùng cây cỏ, lá hoa. Và Xuân cũng đến từ trong tâm tưởng của những người dân Việt sinh sống nơi đầu sóng ngọn gió.

Những tuấn mã băng mình trên vùng đồi Bá Vân

Những tuấn mã băng mình trên vùng đồi Bá Vân

Trong một chiều nắng xiên, đàn ngựa tung vó băng mình ven đồng cỏ, tạo nên những đám bụi mù mịt ở vùng đồi Bá Vân. Núi thắm đẹp kỳ ảo xa xa, đường đồi dốc “cong vênh” khiến cho góc nhìn của lữ khách càng thêm mê mải.

Thành phố Hồ Chí Minh – Đầu tàu đổi mới từ thực tiễn sinh động

Thành phố Hồ Chí Minh – Đầu tàu đổi mới từ thực tiễn sinh động

Đồng chí Phạm Phương Thảo, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - người trực tiếp chứng kiến và tham gia vào nhiều dấu mốc quan trọng của công cuộc đổi mới - đã chia sẻ những góc nhìn sâu sắc về hành trình vượt khó, tinh thần “xé rào” và sứ mệnh dẫn dắt của Thành phố Hồ Chí Minh.

Đền thờ Vua Hàm Nghi và tướng sĩ Cần Vương tại Di tích lịch sử quốc gia thành Tân Sở ở xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Con đường yêu nước

Trong tâm thức người dân Việt Nam, hình ảnh Vua Hàm Nghi và phong trào Cần Vương luôn được trân trọng như một phần thiêng liêng của lịch sử dân tộc. Bởi đó không chỉ là câu chuyện yêu nước của vị vua trẻ tuổi mà còn là biểu tượng cho khát vọng độc lập, tự cường của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Hiếu với dân - Phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ

Hiếu với dân - Phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ

Sự xuất hiện của những căn nhà mới khang trang trên nền đất cũ, nơi cỏ còn chưa kịp tái sinh sau lũ lụt đã thể hiện ý chí của Đảng, quân và dân ta quyết tâm biến đau thương thành hành động. Trên hết, đó chính là cách thiết thực nhất mà lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam làm “tròn chữ hiếu” với nhân dân theo lời dạy của Bác Hồ.

Dấu ấn Việt Nam năm 2025

Dấu ấn Việt Nam năm 2025

Năm 2025, Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực; ổn định vĩ mô được giữ vững, tăng trưởng tiếp tục được duy trì, quốc phòng-an ninh được củng cố, đối ngoại và hội nhập quốc tế mở rộng.