1. Ai từng sống thời Bao cấp, giai đoạn 1975-1985 thì từ cán bộ Nhà nước đến nhân dân cũng đều thấm cảnh cơm độn bo bo, sắn lát mỗi ngày. Làm thế nào thoát khỏi cảnh cơ hàn? Không thể ngồi suy tính mãi, lãnh đạo tỉnh đã hành động: Đi giao thương hàng hóa với các nước tư bản.
Khi lãnh đạo Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo, đồng chí Hồ Nghinh, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng về chỉ đạo chu đáo việc này. Đây là hướng đi táo bạo mà nếu không có sự tán đồng, ủng hộ của đồng chí Hồ Nghinh thì khó mà thực hiện. Lúc bấy giờ lãnh đạo tỉnh xác định, con đường giao thương duy nhất và khả thi nhất là đường biển. Giữa ta và các nước tư bản chưa có bang giao nên việc buôn bán với họ là vô cùng khó. Nhưng trong cái khó ló cái khôn, lãnh đạo tỉnh chỉ đạo: Giao thương với các nước có cảm tình với ta trong chiến tranh, nước trung lập trước, rồi tiến dần đến các nước tư bản khác.
Lúc đó tôi nghĩ đi là sẽ bị bắt chắc rồi, vì giai đoạn này cộng sản mà “đi buôn” với tư bản thì nguy hiểm vô cùng. Và biết đâu các thế lực thù địch nhân cơ hội đó rình mò, bắt cóc các thành viên của đoàn, hoặc tổ chức cướp tàu, giết người thì càng nguy. Bất giác trong tôi, cảnh phim “Những tên cướp biển của thế kỷ 20” hiện ra, tôi đâm lo lỡ chuyện ấy xảy đến thì phải chiến đấu thế nào. Mà làm gì có đủ điều kiện để chiến đấu…
Hôm ấy, sáng đầu tuần tháng 7/1983, đồng chí Giám đốc Công an Trần Văn Đáng gọi tôi lên giao nhiệm vụ đi cùng đoàn công tác của tỉnh sang Hồng Kông (Trung Quốc), chở hàng nông sản đi trao đổi. Tôi từ chối vì không quen đường biển. Đồng chí tươi cười động viên: “Không có việc gì khó, chỉ sợ mình không làm. Làm sẽ thấy kết quả thôi mà”. Rồi đồng chí dẫn tôi qua gặp đồng chí Hoàng Minh Thắng, Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phạm Đức Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong phòng làm việc, đồng chí Hoàng Minh Thắng nói với tôi: …Tỉnh phân công đồng chí làm chính trị viên của đoàn, giúp thuyền trưởng làm công tác chính trị tư tưởng cho thuyền viên và các thành viên tàu, tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế nếu có. Cụ thể là nếu bị bắt thì đồng chí phải là người chịu trách nhiệm “thế chấp” để anh em về, chứ nếu bị giữ hết thì tiền đâu mà chuộc người…
Tôi chưa biết nói gì thì đồng chí Phạm Đức Nam bảo: Đồng chí phải làm tốt công tác tư tưởng, giúp thuyền trưởng quản lý chặt chẽ thuyền viên, nhân viên, không để anh em qua đó rồi ở lại, hoặc bị giữ. Khi gặp sự cố về đối nội, đối ngoại thì phối hợp với thuyền trưởng giải quyết cho tốt. Nếu gặp tình huống xấu nhất thì đồng chí phải “thế thân” để giải tỏa anh em và con tàu về, lãnh đạo tỉnh sẽ báo cáo Trung ương giải quyết sau.
Đồng chí Trần Văn Đáng nói: Đi giao thương, trao đổi hàng hóa cũng là nhiệm vụ vì dân, vì sự phát triển của quê hương xứ sở. Đồng chí cố gắng, tôi tin đồng chí sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng chí về chuẩn bị, chắc đầu tháng này lên đường. Tranh thủ những chuyến đi, đồng chí thực hiện thêm vài việc công an tỉnh giao. Siết chặt tay tôi, đồng chí Bí thư Hoàng Minh Thắng nói: Tôi tin đồng chí. Tin chắc thắng lợi, thành công. Quyết tâm nhé!
2. Thế là cuối tháng 2/1983, tôi được biệt phái sang Công ty Vận tải sông biển Quảng Nam-Đà Nẵng, làm Chính ủy tàu Sông Thu. Rồi một sáng tháng 3, trời yên biển lặng, tôi và 19 thành viên cùng con tàu chở đầy hàng hóa nông sản xuất bến.
Con tàu rời bến cảng Đà Nẵng. Tuy 20 thành viên của đoàn ai cũng hứa trước lúc lên đường là sẵn sàng hy sinh tính mạng, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng trong suốt hành trình lênh đênh, có lúc trong anh em xuất hiện sự bi quan, lo lắng, trĩu nặng ưu tư. Với tư cách chính trị viên, tôi động viên anh em bằng cách kể chuyện thật lâm ly, gay cấn, hấp dẫn, kích thích tính mạo hiểm, dám xông pha của anh em. Tôi kể anh em nghe những tháng ngày tôi vào hang địch, nếm mật nằm gai trong căn cứ lõm Cồn Dầu như thế nào. Rồi tôi ví con tàu đang chở anh em ta đi đây là con tàu mang sứ mệnh thiêng liêng, cao cả, có nhiệm vụ cứu khổ cứu nạn, mở đường làm giàu cho quê hương một thời trung dũng kiên cường… Thế rồi cả con tàu dậy lên một không khí vui tươi, hào hứng.
Sau khoảng 3 ngày đêm vượt sóng gió gập ghềnh, tàu chúng tôi đến vùng lãnh hải Hồng Kông (Trung Quốc). Tàu nằm ở phao số 0, nhắn bạn hàng thời chiến tranh bên Hồng Kông, đề nghị họ sắp xếp thực hiện thương vụ. Cũng may là họ từng có cảm tình với ta trong kháng chiến chống Mỹ, từng trao đổi hàng hóa với ta thời đó, nay biết chúng ta đang khó khăn nên sẵn sàng giúp. Thương vụ được tiến hành khẩn trương, kết quả rất tốt. Ngoài số đôla giá trị hàng hóa thu về, đoàn còn mua những loại hàng hóa cần thiết để về phân phối cho ngành thương nghiệp phục vụ đời sống nhân dân.
3. Nhưng chuyến thứ hai thì gặp sự cố ngoài ý muốn, tưởng chừng sẽ bỏ mạng ngoài biển khơi. Chẳng là sau một ngày ra khơi, khi màn đêm buông xuống, tàu đến hải phận quốc tế thì một trận cuồng phong nổi lên, con tàu tròng trành trong cơn sóng dữ và hỏng máy. Suốt đêm hôm ấy, hầu hết các thành viên trên tàu đều say sóng, ói tới mật xanh. Tôi tuy cũng say nhưng vẫn cố gượng sức bàn bạc với thuyền trưởng bằng mọi giá phải cứu con tàu không để chìm. Lúc này mạng sống đang bị đe dọa từng giờ, anh em chỉ chờ lệnh thuyền trưởng cho rời tàu là nhảy xuống biển, mặc cho tính mạng ra sao thì ra. Biết được tư tưởng của anh em, tôi và thuyền trưởng động viên anh em bình tĩnh, nếu có chết thì cũng chết chung trên con tàu để còn được vớt xác, chứ nhảy xuống biển nạp mình cho cá mập cũng không phải là cách giải quyết tốt. Tôi còn nói chắc với anh em là tàu sẽ trở về an toàn, các đồng chí sẽ bình yên vô sự, hãy tin tôi đi. Rồi tôi bắt tay từng thành viên, biểu thị sự quyết tâm vượt qua sóng gió.
Bộ phận lái tàu và kỹ thuật căng óc nghĩ cách làm cho con tàu nổ máy. Tôi dõi theo tiến độ sửa tàu của anh em từng phút từng giờ. Không làm anh em phân tâm, tôi bảo tôi tin anh em sẽ cho con tàu thẳng hướng vượt biển khơi, cố gắng lên! Trải qua một ngày đêm trôi dạt trên biển, khi tàu bị sóng to gió lớn đánh dạt vào vùng biển giáp giới Philippines thì con tàu “sống lại” trong tiếng máy nổ giòn, đèn điện bật sáng. Ai nấy ôm nhau nhảy cẫng như trẻ con.
Lúc này sóng gió đã qua nhưng sự rủi ro chưa phải đã hết, bởi nếu bị bắt giữ thì nguy khốn vô cùng. Nhưng may thay, sau khi kiểm tra, bộ phận kỹ thuật và lái tàu cho biết máy móc đã hoàn toàn được khôi phục, thuyền trưởng ra lệnh cho con tàu khẩn trương rời vùng nguy hiểm, tiếp tục hành trình vượt sóng, trực chỉ Hồng Kông.
Lại một ngày đêm nữa trôi qua, con tàu đã đến tọa độ giao thương thường gặp, hàng hóa trên tàu còn nguyên vẹn. Khi bạn hàng đến, chúng tôi khẩn trương thực hiện thương vụ. Qua thông dịch viên, các bạn hàng nói: “Các ông giỏi thiệt. Đánh Mỹ cũng giỏi mà buôn bán cũng giỏi. Vạn dặm xa xôi, vượt ngàn sóng gió mà các ông vẫn làm được thì Việt Nam mạnh giàu chỉ là chuyện của tương lai”.
Thế rồi sau hai ngày hai đêm vượt qua muôn trùng sóng gió, con tàu đã về đến hải phận Việt Nam… Từ những chuyến đầu thành công tốt đẹp, tôi cùng đoàn thủy thủ thực hiện được vài chục chuyến nữa, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách tỉnh, góp phần giải quyết nạn đói cho nhân dân trong thời điểm này.
_________________________________________
* (Theo lời kể của Đại tá Nguyễn Hạnh Kiểm, nguyên Giám đốc Công an Quảng Nam-Đà Nẵng, nguyên Giám đốc Công an Quảng Nam, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Quảng Nam).