TS, BS Nguyễn Doãn Phương, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia:

Rối loạn tâm thần liên quan đến stress đáng báo động

Liên tục có mặt tại Viện từ 6 giờ sáng hằng ngày, trực tiếp khám và điều trị cho nhiều bệnh nhân, bận rộn với nhiều công việc chuyên môn và quản lý, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, TS, BS Nguyễn Doãn Phương (ảnh bên) vẫn dành thời gian chia sẻ cùng Nhân Dân hằng tháng nhiều vấn đề thiết thực:

Các cơ sở y tế Việt Nam đã có nhiều thiết bị hiện đại hỗ trợ chẩn đoán bệnh.
Các cơ sở y tế Việt Nam đã có nhiều thiết bị hiện đại hỗ trợ chẩn đoán bệnh.

Rối loạn sức khỏe tâm thần nhiều năm trở lại đây đã được coi như nguy cơ có thật, tác động sâu sắc tới cuộc sống riêng của cá nhân cũng như cộng đồng và xã hội, phải vậy không thưa ông?

Theo phân loại bệnh quốc tế về các rối loạn tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) các rối loạn tâm thần lần thứ X (ICD-X)  rất đa dạng, phổ biến với nhiều mã bệnh khác nhau. Thí dụ, bệnh lý loạn thần: bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn loạn thần cấp và nhất thời; các rối loạn về cảm xúc: trầm cảm, hưng cảm; các rối loạn liên quan đến rối loạn sử dụng chất ma túy, các rối loạn nhân cách, rối loạn tâm thần liên quan đến bệnh thực tổn... Đặc biệt, ngày nay khi áp lực cuộc sống lớn, từ áp lực học tập, công việc và các tác động từ thiên tai, thảm họa..., các rối loạn tâm thần liên quan đến stress rất đáng báo động với nhiều biểu hiện lâm sàng như rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm, rối loạn sự thích ứng... Các rối loạn tâm thần này gây tác động sâu sắc không chỉ cho bản thân người bệnh với nhiều mức độ ảnh hưởng khác nhau từ giảm hiệu suất làm việc, học tập, giảm cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp, mất việc, nguy cơ tan vỡ hôn nhân, bị kỳ thị, giảm chất lượng cuộc sống... Nặng nề nhất là người bệnh có thể xuất hiện ý định và hành vi tự sát. Người nhà người bệnh, xã hội và cộng đồng cũng bị ảnh hưởng nặng nề liên quan tới việc chăm sóc và điều trị cho người bệnh, chi phí điều trị trực tiếp, gián tiếp cho các rối loạn tâm thần ngày càng tăng. Các rối loạn tâm thần có thể gặp ở mọi nhóm tuổi từ khi sinh ra đến khi trở về với thế giới bên kia, đặc biệt là nhóm tuổi trẻ, nhóm tuổi lao động và do vậy cũng làm giảm sản xuất của cải vật chất cho gia đình và xã hội...

Rối loạn tâm thần liên quan đến stress đáng báo động -0

Tỷ lệ rối loạn sức khỏe tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây, do những nguyên nhân nào, thưa ông?

Thực tế là các rối loạn tâm thần nói chung và trầm cảm nói riêng gần đây được chẩn đoán và điều trị nhiều hơn. Có nhiều yếu tố giải thích về tình trạng này. Một là sự phát triển của chuyên ngành tâm thần được thể hiện qua số lượng nhân viên y tế từ bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý, điều dưỡng làm việc trong lĩnh vực tâm thần ngày càng tăng, nhiều phòng khám chuyên khoa và bệnh viện tâm thần được xây dựng và phát triển. Hai là nhận thức của người dân cũng như các ngành đoàn thể về các vấn đề rối loạn tâm thần cũng thay đổi theo hướng tích cực hơn, người dân đã chủ động đi khám chuyên khoa tâm thần từ sớm thay vì như trước đây người bệnh với các rối loạn tâm thần không biết là khám ở chuyên khoa nào hoặc người bệnh sợ bị kì thị thường không khám chuyên khoa tâm thần, đến khám khi biểu hiện bệnh thường đã muộn. Ba là vai trò của truyền thông, giáo dục sức khỏe tâm thần hiện nay có rất nhiều biện pháp được áp dụng rộng rãi, từ cung cấp thông tin về tư vấn chăm sóc các rối loạn tâm thần thường gặp trên các trang báo mạng, hoặc các trang mạng xã hội tới các câu lạc bộ về các rối loạn tâm thần được triển khai tại các cơ sở điều trị tâm thần. Tại Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, hiện đang tổ chức và duy trì câu lạc bộ người bệnh sa sút trí tuệ, câu lạc bộ người bệnh tâm thần phân liệt, câu lạc bộ người bệnh tăng động giảm chú ý, câu lạc bộ người bệnh rối loạn lo âu... cho người bệnh và người nhà người bệnh rất hiệu quả.

Ông từng nói rằng, “người bệnh ở Viện Sức khỏe tâm thần hiện nay đã đồng ý đưa hình ảnh cá nhân của mình lên phương tiện thông tin đại chúng, đánh dấu một bước tiến mới về quan niệm bệnh lý bệnh  tâm thần”. Điều này chứng tỏ nhận thức của cộng đồng về bệnh tâm thần đã cao hơn, cởi mở hơn, những định kiến giảm dần đi?

Phải nói nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về các rối loạn tâm thần đang tăng lên. Nếu như trước đây khi nói đến bệnh tâm thần người ta nghĩ luôn đến bệnh tâm thần phân liệt, là kích động, là tự sát cho nên sự kì thị rất lớn, không ai muốn người khác biết được mình có bệnh tâm thần. Ngày nay nhận thức về các rối loạn tâm thần tăng hơn, người dân đã biết có rất nhiều rối loạn tâm thần khác như đau đầu, rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu... và họ chủ động đi khám, được tư vấn khám sớm. Người bệnh cũng cởi mở hơn, chia sẻ hình ảnh của mình nhiều hơn. Vai trò của cộng đồng, các ngành đoàn thể rất lớn, người bệnh được khám và điều trị sớm với nhiều phương pháp điều trị từ hóa dược đến liệu pháp tâm lý và các phương pháp kích thích não... Người bệnh ổn định hồi phục có thể  hòa nhập với gia đình và xã hội, rối loạn tâm thần được coi như các bệnh lý nội khoa khác như tim mạch, tiêu hóa, hô hấp, nội tiết..., được xã hội thừa nhận, từ đó sự kỳ thị của xã hội đã giảm rất nhiều.

Vậy các lứa tuổi, đối tượng nào dễ mắc trầm cảm hay rối loạn sức khỏe tâm thần?

Ngày nay với rất nhiều yếu tố nguy cơ như áp lực cuộc sống tăng lên, sự phổ biến của các trò chơi trên mạng internet, của các chất ma túy, nhất là các chất ma túy tổng hợp... thì mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm cũng như các rối loạn tâm thần khác. Thí dụ, lứa tuổi trẻ em thanh thiếu niên khi nhân cách chưa phát triển dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động bên ngoài. Vì vậy khi học tập đạt kết quả không như mong muốn hoặc bị bạn bè tẩy chay... cũng dễ xuất hiện các rối loạn tâm thần. Nhóm tuổi già với sự lão hóa của nhóm tuổi, sự cô đơn, nhiều bệnh cơ thể... là những yếu tố nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm ở người già, sa sút trí tuệ...

Theo ông, cách thức nào hữu hiệu nhất để phòng chống những rối loạn liên quan đến sức khỏe tâm thần?

Hiện nay phần lớn các rối loạn tâm thần vẫn chưa có phương pháp dự phòng cấp, dự phòng đặc hiệu. Chính vì vậy làm giảm các yếu tố nguy cơ gây các rối loạn tâm thần như tập thể dục, thể thao duy trì sức khỏe thể chất, ăn ngủ đúng giờ, giảm các căng thẳng trong công việc, trong cuộc sống, không sử dụng các chất ma túy, các chất kích thích... là những cách tốt nhất để phòng các rối loạn tâm thần. Tuyên truyền giáo dục sức khỏe tâm thần để người dân khi có dấu hiệu bệnh lý được khám và điều trị sớm, mặt khác một số rối loạn tâm thần do nguyên nhân nội sinh như bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn trầm cảm tái diễn... tuân thủ điều trị và khám lại theo hẹn chuyên khoa là cách tốt nhất phòng ngừa tái phát và tái diễn của bệnh.

Trong các nhà trường, cơ sở giáo dục, các cơ quan, công sở, doanh nghiệp... có đông người lao động, có nên tổ chức và duy trì thường xuyên các biện pháp khám, tư vấn, sàng lọc... về sức khỏe tâm thần không, thưa ông?

Đây là phương pháp rất hay và phải được áp dụng, có thể là áp dụng ngay từ khi bắt đầu nhập học đối với các trường học, hoặc khi tuyển lao động đối với các tổ chức lao động. Phương pháp này giúp phát hiện sớm những học sinh, người lao động có vấn đề về sức khỏe tâm thần, từ đó can thiệp sớm giúp họ có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên phương pháp này cũng yêu cầu nguồn lực lớn về đội ngũ nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực tâm thần, có sự phối hợp hoạt động của nhiều ban, ngành, đoàn thể. Mặt khác, ngoài việc thăm khám lâm sàng trực tiếp, hiện nay nhiều trắc nghiệm tâm lý đã được xây dựng và phát triển cho mục đích sàng lọc, chẩn đoán rối loạn tâm thần ở cộng đồng. Thí dụ trắc nghiệm PHQ 2 được dùng cho sàng lọc các rối loạn trầm cảm ở cộng đồng, ở những chuyên khoa không thuộc chuyên khoa tâm thần rất tiện lợi và hiệu quả...

Khi có những dấu hiệu thế nào thì một người bình thường cần đi khám tư vấn sức khỏe tâm thần, thưa ông?

Các triệu chứng của các rối loạn tâm thần rất đa dạng, nhiều rối loạn tâm thần được biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể giống với các bệnh lý tổn thương thực thể làm bệnh nhân khám các chuyên khoa thực thể trước sau đó mới được khám chuyên khoa tâm thần. Đây là nguyên nhân làm cho người bệnh tâm thần chậm trễ được khám đúng chuyên khoa, làm giảm hiệu quả điều trị. Việc được khám và điều trị sớm các rối loạn tâm thần rất quan trọng. Đối với người bình thường, khi có những dấu hiệu như rối loạn giấc ngủ, ngủ ít, ngủ nhiều, buồn chán, dễ mệt mỏi, ăn kém, giảm ham muốn tình dục, hay giận dỗi, cáu gắt vô cớ, giảm hiệu suất làm việc, kém tập trung, hay quên, lo lắng nhiều vấn đề, đau mỏi cơ thể kéo dài,... thì nên đi khám chuyên khoa tâm thần để được khám, tư vấn và điều trị.

Trân trọng cảm ơn TS, BS Nguyễn Doãn Phương!

Có thể bạn quan tâm

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đầu tư đủ sâu và đi tới đích

Những lĩnh vực công nghệ chiến lược đã và đang được xác định, từng bước bố trí nguồn lực, chuyển sang triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể. Nhân dịp này, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp chia sẻ những góc nhìn để công nghệ chiến lược thật sự tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Giới thiệu sản phẩm UAV tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Mở cánh cửa kinh tế tầm thấp

Khi đất đai, biển và không gian mạng trở thành những nguồn lực phát triển quan trọng, tầng không gian thấp đang nổi lên như một biên giới kinh tế mới. Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã nhìn nhận thiết bị bay không người lái (UAV) là nền tảng có thể phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng dư địa tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Mô hình xe tự hành của Phenikaa-X. Ảnh | PX

Gỡ nút thắt với không gian thử nghiệm

Nhiều năm qua, hành trình đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Việt Nam luôn gặp khó ở điểm nghẽn quy chuẩn pháp lý. Lời giải cho nút thắt ấy chính là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Việc thành phố Hà Nội chính thức phê duyệt thử nghiệm hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ chế biến sâu đất hiếm hàm lượng cao là bước đi cụ thể cho thấy: Muốn công nghệ chiến lược bứt phá, thể chế phải chủ động mở đường và tiến cùng công nghệ.

Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh

Bài toán mới của Việt Nam

Có một sự dịch chuyển đang diễn ra rất rõ đó là công nghệ không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp tăng năng suất hay người dùng có thêm những tiện ích mới, mà đang trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh các nước đều tăng tốc, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và từng bước chuyển sang giai đoạn triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam.

Đánh thức tiềm năng, khai thác hiệu quả

Phát triển du lịch văn hóa biển, đảo đứng trước nhiều cơ hội, tuy nhiên còn không ít thách thức, cần sớm tìm ra lời giải hữu hiệu. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực.

Trên nền biển nam Khánh Hoà, hàng trăm cánh diều bay lượn, tạo nên một bức tranh thể thao mạo hiểm đầy lôi cuốn và tươi mới. Ảnh | Tùng Lâm

NGUỒN LỰC NỘI SINH CỦA MỘT QUỐC GIA BIỂN MẠNH

Trả lời phỏng vấn phóng viên Nhân Dân hằng tháng, PGS,TS Bùi Hoài Sơn (ảnh dưới) - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh: “Một quốc gia biển mạnh phải biết làm giàu từ biển đồng thời biết gìn giữ biển; có kinh tế biển hiện đại nhưng vẫn có những làng biển giàu bản sắc; có đô thị biển thông minh nhưng không làm biến mất ký ức cộng đồng; vươn ra biển lớn nhưng luôn mang theo bản sắc và tâm hồn Việt Nam”.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.