Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG
Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Năm học 2025-2026, tỷ lệ đi học trong độ tuổi đạt 98,3% ở tiểu học, 93,4% ở trung học cơ sở và 70,2% ở trung học phổ thông. Trong các quốc gia tham gia SEA-PLM 2024 - Chương trình đánh giá kết quả học tập bậc tiểu học khu vực Đông Nam Á, học sinh lớp 5 Việt Nam đạt kết quả cao nhất về Đọc hiểu và Toán; 86% đạt mức năng lực tối thiểu về Đọc hiểu và 95% về Toán. Việt Nam đã kết hợp khá tốt giữa mở rộng tiếp cận và duy trì chất lượng học tập cơ bản.

Những đổi mới thể chế tiếp tục mở rộng cơ hội. Miễn học phí làm giảm chi phí trực tiếp; chính sách giáo dục nghề nghiệp mở thêm lựa chọn sau lớp 9; lộ trình miễn phí sách giáo khoa và phổ cập mầm non hướng tới bảo đảm điều kiện cho việc học.

Nền giáo dục nước ta định hướng xã hội chủ nghĩa; công bằng không phải chia đều nguồn lực, mà là hỗ trợ theo mức độ bất lợi. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu thực hiện theo nguyên tắc “nơi nào khó hơn thì được hỗ trợ nhiều hơn”. Trẻ khuyết tật cần thiết bị trợ giúp; trẻ em dân tộc thiểu số cần hỗ trợ tăng cường ngôn ngữ, bán trú; học sinh nghèo cần hỗ trợ đi lại, ăn ở.

Những khoảng cách còn tồn tại

Khi quyền đến trường được bảo đảm ở mức cao, khoảng cách giáo dục chuyển sang khả năng học tiếp, điều kiện và chất lượng học tập. Cả nước còn khoảng một triệu trẻ từ 3 đến 5 tuổi chưa được đến lớp và 1,6 triệu người trong độ tuổi không học phổ thông hoặc học nghề; tỷ lệ theo học THPT ở Đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt 53,3%, so với 84,6% ở Đồng bằng sông Hồng. Điều đó cho thấy khoảng cách công bằng còn tương đối lớn, thể hiện khác nhau theo địa bàn: Miền núi, biên giới thiếu bán trú, giáo viên và thiết bị; đô thị lại quá tải do dân số cơ học tăng nhanh. Thành phố Hồ Chí Minh có 16,8% và Hà Nội có 15,5% lớp tiểu học hơn 55 học sinh, khiến áp lực chọn trường, học thêm và lợi thế từ khả năng chi trả gia tăng.

Khoảng cách còn nằm trong việc thực hiện chương trình. Trường đủ phòng học nhưng thiếu giáo viên các môn đặc thù vẫn chưa bảo đảm học sinh được học đầy đủ. Học sinh khuyết tật được ghi danh nhưng không tiếp cận lớp học, học liệu hoặc nền tảng số thì quyền học tập mới được thừa nhận về hình thức. Chỉ khoảng 33% người khuyết tật tiếp cận internet, so với 83% người không khuyết tật. Công nghệ có thể mở rộng cơ hội nhưng cũng làm sâu khoảng cách nếu không đến nhóm yếu thế.

Cơ sở vật chất phản ánh hai mặt của quá trình phát triển. Năm học 2025-2026, cả nước bổ sung 28.517 phòng học, đưa tỷ lệ phòng học kiên cố lên 89,6%. Tuy nhiên, vẫn thiếu 45.691 phòng học, 27.084 phòng chức năng và còn 6.477 phòng học nhờ, mượn; thiết bị tối thiểu mới đáp ứng 50,6%, riêng trung học phổ thông 38,7%. Những khoảng cách ấy cho thấy, chúng ta còn phải nỗ lực nhiều hơn.

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đó, nhìn thẳng vào chất lượng chưa đồng đều, nguồn lực phân bổ chưa hiệu quả, chính sách nhà giáo còn bất cập, quản lý chậm đổi mới và chênh lệch cơ hội. Nghị quyết xác định Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, bảo đảm nguồn lực và công bằng, đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên. Mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành THPT hoặc tương đương, không địa phương nào dưới 60%, đã lượng hóa yêu cầu thu hẹp khoảng cách.

Sau 10 tháng triển khai Nghị quyết số 71, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận những chuyển biến về nhận thức, thể chế và chính sách, nhưng kết quả mới ở bước đầu, chưa tạo được chuyển biến thực chất để đáp ứng yêu cầu "đột phá" của Nghị quyết trong nhà trường, điều kiện làm việc của giáo viên và trải nghiệm người học. Nhận định ấy chỉ rõ khoảng cách giữa chủ trương và kết quả.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”. Quản trị phát triển phải bắt đầu từ kết quả người học, nhận diện rủi ro, phân bổ nguồn lực theo mức độ bất lợi và xác định trách nhiệm từng cấp. Dữ liệu phải phát hiện sớm nơi thiếu giáo viên, phòng học, trường quá tải và học sinh có nguy cơ bỏ học.

Đưa chủ trương vào từng nhà trường, người học

Vấn đề quyết định là biến định hướng đúng thành thay đổi có thể đo lường. Chính sách phải xuất phát từ nhu cầu khác nhau, không áp dụng bình quân. Miễn học phí mới giảm một phần chi phí. Học sinh vùng cao còn cần bán trú, đi lại, học liệu; học sinh nghèo ở đô thị cần thiết bị số; trẻ khuyết tật cần công trình và nền tảng tiếp cận.

Giáo dục nghề nghiệp chỉ bình đẳng khi trở thành con đường có giá trị. Học nghề phải gắn với việc làm, có thiết bị thực hành, giáo viên có kinh nghiệm và khả năng liên thông. Học nghề không phải lựa chọn thứ hai, mà là con đường để có việc làm, thu nhập, học tiếp và phát triển lâu dài.

Sắp xếp mạng lưới trường học phải phục vụ người học, không chạy theo giảm đầu mối. Việc sắp xếp, sáp nhập chỉ có ý nghĩa khi không làm học sinh đi xa hơn, tăng sĩ số hoặc mất điểm trường thiết yếu. Mỗi phương án phải tính đến địa lý, giao thông, đội ngũ và chất lượng; đô thị có thể tổ chức trường quy mô lớn, còn vùng núi vẫn cần duy trì những điểm trường cần thiết để học sinh được học thuận lợi, an toàn và tốt hơn.

Điểm nghẽn giáo viên phải được giải quyết linh hoạt. Năm học 2025-2026, các địa phương tuyển thêm 14.994 giáo viên, đưa tổng số tuyển mới giai đoạn 2022-2026 lên hơn 60 nghìn người. Tuy vậy, đến tháng 6/2026, cả nước vẫn thiếu 104.516 giáo viên, riêng trung học cơ sở thiếu 42.357 người.

Cần tuyển dụng theo số học sinh thực tế, điều tiết từ nơi thừa sang nơi thiếu, đặt hàng đào tạo theo môn và địa bàn, cải thiện nhà công vụ, thu nhập. Nguyên tắc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: “Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên”. Dạy học liên trường và công nghệ chỉ là giải pháp hỗ trợ.

Sau sắp xếp, hiệu trưởng phải được chuẩn bị để quản trị trường quy mô lớn, nhiều phân hiệu. Nếu năng lực quản lý, sự thay đổi không theo kịp, sáp nhập có thể tạo đầu mối lớn hơn nhưng chưa chắc tạo môi trường tốt hơn. Giảm cán bộ quản lý phải đi cùng giảm thủ tục, báo cáo và hồ sơ hình thức.

Công bằng còn phải được quản trị bằng dữ liệu. Bộ chỉ số công bằng giáo dục gồm bốn nhóm với 32 chỉ số thành phần là bước đi đúng, nhưng chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu được phân tích đến từng xã, trường, nhóm người học và giai đoạn chuyển tiếp.

Cần công khai các chỉ số cốt lõi, xác định nơi thiếu giáo viên, phòng học, có tỷ lệ bỏ học cao và giao trách nhiệm khắc phục theo thời hạn. Mỗi mục tiêu của Nghị quyết số 71 phải gắn với nhiệm vụ, chỉ số, nguồn lực, thời hạn và cơ quan chịu trách nhiệm.

Đầu tư phải đi đến chất lượng vận hành. Trường nội trú liên cấp tại xã biên giới là chủ trương đúng vì giải quyết chỗ học, ăn ở và khả năng duy trì việc học. Nhưng công trình chỉ tạo ra công bằng khi có giáo viên, nhân viên y tế, kinh phí bán trú, phương tiện đưa đón và hiệu trưởng đủ năng lực.

Chuyển đổi số và AI phải được đánh giá bằng số người thật sự sử dụng, tiến bộ và hưởng lợi, không phải số nền tảng, tài khoản hay bài giảng đã số hóa. Yêu cầu “kiên quyết không để học sinh do hoàn cảnh khó khăn mà không được đến trường” phải thành tiêu chuẩn kiểm tra mọi quyết định phân bổ nguồn lực.

Việt Nam đã tạo dựng nền tảng tích cực về phổ cập, chất lượng học tập cơ bản và hỗ trợ người học. Nghị quyết số 71 cho thấy, Trung ương đã nhận diện đúng những khoảng cách còn lại và đặt công bằng vào trung tâm đột phá giáo dục. Bước quyết định là tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn, đo được kết quả và quy rõ trách nhiệm.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”. Công bằng không chỉ là mở cửa trường học, mà là bảo đảm mọi người học, dù ở đâu, đều có cơ hội phát triển. Đích đến không phải ai cũng như nhau, mà là không ai bị xuất phát điểm giới hạn tương lai. Khi đó, quyền học tập mới thật sự trở thành quyền vươn lên bằng giáo dục.

Có thể bạn quan tâm

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đầu tư đủ sâu và đi tới đích

Những lĩnh vực công nghệ chiến lược đã và đang được xác định, từng bước bố trí nguồn lực, chuyển sang triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể. Nhân dịp này, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp chia sẻ những góc nhìn để công nghệ chiến lược thật sự tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Giới thiệu sản phẩm UAV tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Mở cánh cửa kinh tế tầm thấp

Khi đất đai, biển và không gian mạng trở thành những nguồn lực phát triển quan trọng, tầng không gian thấp đang nổi lên như một biên giới kinh tế mới. Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã nhìn nhận thiết bị bay không người lái (UAV) là nền tảng có thể phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng dư địa tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Mô hình xe tự hành của Phenikaa-X. Ảnh | PX

Gỡ nút thắt với không gian thử nghiệm

Nhiều năm qua, hành trình đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Việt Nam luôn gặp khó ở điểm nghẽn quy chuẩn pháp lý. Lời giải cho nút thắt ấy chính là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Việc thành phố Hà Nội chính thức phê duyệt thử nghiệm hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ chế biến sâu đất hiếm hàm lượng cao là bước đi cụ thể cho thấy: Muốn công nghệ chiến lược bứt phá, thể chế phải chủ động mở đường và tiến cùng công nghệ.

Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh

Bài toán mới của Việt Nam

Có một sự dịch chuyển đang diễn ra rất rõ đó là công nghệ không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp tăng năng suất hay người dùng có thêm những tiện ích mới, mà đang trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh các nước đều tăng tốc, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và từng bước chuyển sang giai đoạn triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam.

Đánh thức tiềm năng, khai thác hiệu quả

Phát triển du lịch văn hóa biển, đảo đứng trước nhiều cơ hội, tuy nhiên còn không ít thách thức, cần sớm tìm ra lời giải hữu hiệu. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi).

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG

Trong đời sống của những cộng đồng dân cư biển đảo, có những không gian đã âm thầm gìn giữ ký ức và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ðó có thể là một ngôi đình, một lăng thờ cá Ông, một nhà văn hóa hay những không gian lưu giữ, giới thiệu câu chuyện về vùng đất và con người nơi ấy. Nhưng những thiết chế không chỉ để nối dài ký ức. Chúng còn có thể trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng, nơi văn hóa được thực hành, trao truyền và tiếp tục bồi đắp.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.

TS Trần Đình Cường

“Phát triển xanh là xu thế không thể đảo ngược”

Là người gắn bó với các bước thăng trầm của kinh tế Việt Nam từ thời kỳ đầu đổi mới đến nay, với uy tín được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ghi nhận, TS Trần Đình Cường - Chủ tịch Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (EY), đã chia sẻ cùng Nhân Dân hằng tháng câu chuyện nền kinh tế xanh, bền vững mà Việt Nam đang hướng tới.