Đầu tư đủ sâu và đi tới đích

Những lĩnh vực công nghệ chiến lược đã và đang được xác định, từng bước bố trí nguồn lực, chuyển sang triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể. Nhân dịp này, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp chia sẻ những góc nhìn để công nghệ chiến lược thật sự tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)

- Phóng viên: Quyết định 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định 10 nhóm và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược. Vậy Việt Nam cần những tiêu chí nào để lựa chọn trọng tâm, hình thành lợi thế riêng, thay vì dàn trải? Và những điểm nghẽn nào cần được tháo gỡ để rút ngắn hành trình từ nghiên cứu - thử nghiệm - hoàn thiện - thương mại hóa, thưa các chuyên gia?

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ):

Việc lựa chọn sẽ được thực hiện theo quy trình hai bước đã được thể chế hóa. Đầu tiên, mọi đề xuất nhiệm vụ đều phải thuộc danh mục và gắn với bài toán cụ thể. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 ban hành Danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược; Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 giao 20 bài toán lớn gắn với trách nhiệm của từng bộ, cơ quan.

Các đề xuất nhiệm vụ sẽ được thẩm định thông qua Hội đồng tư vấn liên bộ và được đánh giá căn cứ vào các tiêu chí đối với nhiệm vụ công nghệ chiến lược được quy định tại Nghị định số 260/2026/NĐ-CP và Thông tư số 42/2026/TT-BKHCN. Trong đó gồm: Công nghệ lõi cần làm chủ; sản phẩm đầu ra và chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể, đo lường được; mức độ nội địa hóa; địa chỉ tiếp nhận kết quả và phương án ứng dụng, thương mại hóa; năng lực của tổ chức chủ trì và khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước. Nguyên tắc xuyên suốt là phân định rõ nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược với hoạt động mua sắm, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin hoặc chuyển đổi số thông thường.

16-4089.jpg

TS Trịnh Xuân Đức, Viện trưởng Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường (SIIEE):

Theo tôi, vẫn cần tiếp tục thu hẹp và trọng tâm từ các danh mục trong Quyết định 21 để phù hợp điều kiện hiện tại của Việt Nam. Chọn các ngách công nghệ mà Việt Nam có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu là hướng đi khả quan, thí dụ khâu thiết kế/đóng gói trong chip bán dẫn, ứng dụng mô hình AI đặc thù, công nghệ sinh học nông nghiệp. Bên cạnh đó, cũng cần ưu tiên những công nghệ lõi có khả năng làm bệ phóng, thúc đẩy năng suất cho các ngành kinh tế truyền thống khác. Và phải phù hợp với hạ tầng dữ liệu quốc gia và năng lực nhân sự cấp cao thực tế đang có.

Chúng ta vẫn đang thiếu nguồn tài chính xuyên suốt từ nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa. Cơ chế quản lý tài sản trí tuệ, định giá và chuyển giao kết quả nghiên cứu từ ngân sách nhà nước sang tư nhân còn cứng nhắc, nặng hành chính, thiếu linh hoạt và chưa sát thị trường. Bên cạnh đó, nghiên cứu tại viện, trường chưa gắn chặt với nhu cầu thực tế, tạo khoảng cách giữa sản phẩm và thị trường.

Để tháo gỡ, Nhà nước cần chuyển sang cơ chế tài trợ xuyên suốt theo các mốc kết quả đầu ra, chấp nhận rủi ro nghiên cứu có kiểm soát và tạo chính sách thúc đẩy quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa. Đồng thời, cần minh bạch quyền sở hữu, khai thác tài sản trí tuệ và đơn giản hóa thủ tục định giá, chuyển giao công nghệ, chứng nhận sản phẩm để rút ngắn thời gian đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

16-3675.jpg

Ông Đinh Quốc Tuấn, Tổng Giám đốc AMY GRUPO:

Tôi cho rằng việc lựa chọn phải dựa trên lợi thế có thể làm chủ cùng giá trị tạo ra và cần nhìn vào ba tiêu chí: Giải quyết được những bài toán thực tế; Việt Nam phải có nền tảng để làm chủ, từ nguồn lực, nhân lực đến năng lực sản xuất; và phải có khả năng phát triển thành chuỗi giá trị, tạo ra sản phẩm có thị trường và sức cạnh tranh quốc tế.

Quan trọng nhất là không dàn trải nguồn lực cho tất cả. Khi chọn được lĩnh vực cần đầu tư đủ sâu và đi đến cùng: Từ làm chủ công nghệ, làm chủ sản phẩm đến làm chủ thị trường - đó phải là đích đến. Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất là khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Cần đưa doanh nghiệp tham gia sớm, để nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế thay vì nghiên cứu xong mới tìm đầu ra. Đồng thời, cần tháo gỡ ba nút thắt: Thử nghiệm và kiểm chứng sản phẩm; tiêu chuẩn, quy chuẩn và đánh giá công nghệ; nguồn vốn cho giai đoạn hoàn thiện và mở rộng sản xuất. Đây là giai đoạn rủi ro cao nhưng khó tiếp cận nguồn lực nhất.

nv16.jpg

Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chánh Văn phòng Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, Chuyên gia cấp cao nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo:

Tại các quốc gia phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ chiến lược tạo ra sự phát triển đột phá cho quốc gia đó, làm cho tăng trưởng kinh tế hoặc có thể gây ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng tạo vị thế cho dân tộc, thì họ phải làm chủ được công nghệ đó chứ không phải nhận chuyển giao. Và để làm chủ thì đầu tiên phải có nguồn nhân lực sáng tạo, tức là đội ngũ làm R&D. Từ công thức trên, chúng ta phải nhìn lại Việt Nam có nguồn nhân lực ở lĩnh vực nào có đủ năng lực để sáng tạo trong danh mục mà Quyết định 21 liệt kê. Một điều cần lưu ý là sự biến động của công nghệ là không ngừng, vì vậy cần xác định rõ định hướng phát triển chiến lược trong thời gian cụ thể.

Lâu nay sản phẩm thường được hình thành trong các viện nghiên cứu Nhà nước, được đầu tư bằng ngân sách. Trong khoảng chục năm gần đây, các tập đoàn tư nhân Việt Nam cũng đã đầu tư R&D, các viện nghiên cứu tư nhân và các startup công nghệ cũng được hình thành. Đây là những đối tượng làm nghiên cứu-thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm. Đặc biệt là các startup, họ là đối tượng sáng tạo công nghệ theo nhu cầu thị trường và có năng lực thương mại hóa sản phẩm một cách nhanh nhất. Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp... đầu tư mạo hiểm là nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghệ, bên cạnh ngân sách Nhà nước. Việt Nam cần xây dựng thể chế thuận lợi để hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, tạo bệ đỡ cho công nghệ mới phát triển nhanh và đi vào thực tiễn.

- Để đưa công nghệ từ nghiên cứu thành sản phẩm và vươn ra thị trường, Việt Nam cần kết nối hiệu quả Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu-trường đại học, nguồn vốn và thị trường. Theo các chuyên gia, đâu là ưu tiên thay đổi mang tính quyết định trong giai đoạn 2026-2030?

TS Trịnh Xuân Đức: Theo tôi, để hình thành một hệ sinh thái xuyên suốt như vậy Việt Nam cần tổ chức theo định hướng sản phẩm cuối cùng, thông qua việc thiết lập lại vai trò của các trụ cột. Tương tự cách Hàn Quốc sử dụng các tập đoàn lớn làm đầu kéo phát triển công nghệ lõi, Việt Nam cần đặt doanh nghiệp vào vị trí khách hàng, cùng viện-trường đặt đề bài và đồng tài trợ ngay từ đầu, đồng thời chia sẻ vốn, quyền sở hữu trí tuệ và lợi nhuận.

Có thể tham khảo mô hình DARPA (Mỹ): Nhà nước đầu tư các dự án công nghệ đột phá, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và xây dựng hạ tầng dùng chung như siêu máy tính AI, trung tâm đo kiểm chip... Và Nhà nước có thể trở thành khách hàng đầu tiên, dùng sức mua công để tạo thị trường ban đầu, giúp doanh nghiệp có dòng tiền, dữ liệu thực tế và điều kiện hoàn thiện sản phẩm, nâng sức cạnh tranh. Thước đo năng lực công nghệ chiến lược không nằm ở số lượng đề tài, mà ở việc xây dựng đội ngũ chuyên gia và định hình ít nhất 3-5 doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt của Việt Nam.

Hướng tới giai đoạn 2026-2030, tôi nghĩ cần xóa bỏ “tư duy hành chính hóa” trong nghiên cứu khoa học. Yếu tố quyết định là phải mạnh dạn áp dụng nguyên tắc quản trị R&D theo mô hình đầu tư mạo hiểm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát để khơi thông bế tắc. Cùng với đó, quy hoạch lại các chương trình công nghệ quốc gia xoay quanh mục tiêu tạo ra sản phẩm và năng lực làm chủ cụ thể. Quá trình cấp vốn dài hạn phải được gắn chặt với từng mốc kết quả đầu ra và quy định cực kỳ rõ ràng về cá nhân/tổ chức chịu trách nhiệm cuối cùng.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung: Thật ra không phải công nghệ chiến lược nào cũng phải đi qua đầy đủ các khâu như trên. Thí dụ như ngành công nghiệp dữ liệu, nền tảng cốt lõi là nguồn dữ liệu lớn từ IoT, máy tính, internet..., cùng các công cụ để xử lý như AI, Cloud, blockchain... Bản thân hệ sinh thái của chúng ta đã có các thành tố Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, nguồn vốn và thị trường, nhưng lại đứng rời rạc. Mỹ, Hàn Quốc hay Nhật Bản có một ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm cung cấp nguyên liệu cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Riêng ở Thung lũng Silicon nguồn vốn đầu tư mạo hiểm cho startup chiếm 47% toàn nước Mỹ, đó là lý do tại sao tất cả chúng ta đều biết đến Tesla, Facebook, Google hay Airbnb và nhiều tập đoàn công nghệ lớn khác.

Một trong những việc quan trọng và cần thiết hiện nay là hình thành các vườn ươm công nghệ, nơi các nhà sáng tạo công nghệ được nâng cánh, các nhà đầu tư yên tâm vào startup có chất lượng được đào tạo bài bản, Chính phủ có một cửa sổ nhìn một cách minh bạch sự phát triển của công nghệ, doanh nghiệp để yên tâm xây dựng các chính sách và cấp phép cho thử nghiệm sản phẩm. Khi đó, chúng ta không chỉ có thể phát triển sản phẩm, công nghệ mà còn xây dựng nên một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả.

Ông Đinh Quốc Tuấn: Từ góc độ doanh nghiệp, tôi nghĩ rằng điều cần thay đổi trước hết là cách các chủ thể trong hệ sinh thái cùng tạo ra giá trị, không chạy “đường ray” riêng. Cần hình thành một chuỗi liên kết thực chất, trong đó viện, trường mạnh về nghiên cứu, doanh nghiệp mạnh về sản xuất và thị trường, còn Nhà nước tạo hành lang và cơ chế để các nguồn lực kết nối hiệu quả. Đặc biệt, cần chuyển từ hỗ trợ từng dự án sang xây dựng năng lực và chuỗi giá trị. Một hệ sinh thái hiệu quả là nơi các chủ thể kết nối xuyên suốt. Khi tri thức trở thành sản phẩm, sản phẩm đến được thị trường và thị trường tạo động lực cho nghiên cứu, một vòng tuần hoàn đổi mới sáng tạo sẽ hình thành, tạo nền tảng cho những ngành công nghiệp mới.

Theo tôi, những gì người Việt thật sự làm chủ mới là thước đo của năng lực chiến lược. Đó là sản phẩm, công nghệ, doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế và các khâu quan trọng trong chuỗi giá trị. Đồng thời, phải nhìn vào khả năng giảm phụ thuộc vào công nghệ, nguyên liệu và giải pháp cốt lõi từ bên ngoài.

Về ưu tiên thay đổi, tôi sẽ chọn đưa doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình thương mại hóa. Bởi cuối cùng, nghiên cứu phải đi vào sản xuất, rồi tạo ra sản phẩm và phải đứng được trên thị trường. Việt Nam cần chuyển từ tư duy “đầu tư cho nghiên cứu” sang “đầu tư để tạo ra năng lực công nghệ và sản phẩm có sức cạnh tranh”. Khi doanh nghiệp trở thành nơi công nghệ được kiểm chứng, hoàn thiện và nhân rộng, chúng ta mới có thể nói rằng Việt Nam đã thật sự hình thành năng lực công nghệ chiến lược.

Xin trân trọng cảm ơn!

Có thể bạn quan tâm

Giới thiệu sản phẩm UAV tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Mở cánh cửa kinh tế tầm thấp

Khi đất đai, biển và không gian mạng trở thành những nguồn lực phát triển quan trọng, tầng không gian thấp đang nổi lên như một biên giới kinh tế mới. Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã nhìn nhận thiết bị bay không người lái (UAV) là nền tảng có thể phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng dư địa tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Mô hình xe tự hành của Phenikaa-X. Ảnh | PX

Gỡ nút thắt với không gian thử nghiệm

Nhiều năm qua, hành trình đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Việt Nam luôn gặp khó ở điểm nghẽn quy chuẩn pháp lý. Lời giải cho nút thắt ấy chính là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Việc thành phố Hà Nội chính thức phê duyệt thử nghiệm hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ chế biến sâu đất hiếm hàm lượng cao là bước đi cụ thể cho thấy: Muốn công nghệ chiến lược bứt phá, thể chế phải chủ động mở đường và tiến cùng công nghệ.

Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh

Bài toán mới của Việt Nam

Có một sự dịch chuyển đang diễn ra rất rõ đó là công nghệ không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp tăng năng suất hay người dùng có thêm những tiện ích mới, mà đang trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh các nước đều tăng tốc, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và từng bước chuyển sang giai đoạn triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam.

Đánh thức tiềm năng, khai thác hiệu quả

Phát triển du lịch văn hóa biển, đảo đứng trước nhiều cơ hội, tuy nhiên còn không ít thách thức, cần sớm tìm ra lời giải hữu hiệu. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực.

Trên nền biển nam Khánh Hoà, hàng trăm cánh diều bay lượn, tạo nên một bức tranh thể thao mạo hiểm đầy lôi cuốn và tươi mới. Ảnh | Tùng Lâm

NGUỒN LỰC NỘI SINH CỦA MỘT QUỐC GIA BIỂN MẠNH

Trả lời phỏng vấn phóng viên Nhân Dân hằng tháng, PGS,TS Bùi Hoài Sơn (ảnh dưới) - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh: “Một quốc gia biển mạnh phải biết làm giàu từ biển đồng thời biết gìn giữ biển; có kinh tế biển hiện đại nhưng vẫn có những làng biển giàu bản sắc; có đô thị biển thông minh nhưng không làm biến mất ký ức cộng đồng; vươn ra biển lớn nhưng luôn mang theo bản sắc và tâm hồn Việt Nam”.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi).

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG

Trong đời sống của những cộng đồng dân cư biển đảo, có những không gian đã âm thầm gìn giữ ký ức và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ðó có thể là một ngôi đình, một lăng thờ cá Ông, một nhà văn hóa hay những không gian lưu giữ, giới thiệu câu chuyện về vùng đất và con người nơi ấy. Nhưng những thiết chế không chỉ để nối dài ký ức. Chúng còn có thể trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng, nơi văn hóa được thực hành, trao truyền và tiếp tục bồi đắp.

Một tiết mục tại Carnaval Hạ Long 2026.

Lời mời gọi phía trùng khơi

Nằm ở vị trí cửa ngõ phía bắc nước ta, Hải Phòng và Quảng Ninh nổi tiếng bởi không gian biển đảo và thiên nhiên kỳ vĩ không chỉ có sóng, gió, những vách đá vôi sừng sững hay bãi cát trắng mịn, mà cả một không gian văn hóa trầm tích nhiều tầng nấc. Ðó là di sản của các nền văn hóa cổ Soi Nhụ, Hạ Long; là nhịp sống của những làng chài; là hệ thống lễ hội, tín ngưỡng dân gian và tri thức sinh kế miệt biển được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn chưa khép lại. Mỗi liệt sĩ còn nằm lại nơi chiến trường, mỗi ngôi mộ chưa xác định được danh tính là nỗi khắc khoải của biết bao gia đình và đồng đội suốt nhiều thập kỷ qua. Thời gian càng lùi xa, nhân chứng ngày càng ít, địa hình đổi thay, nhiều hồ sơ thất lạc hoặc không đầy đủ, khiến hành trình càng nhiều thách thức.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Trong nhiều năm, kiểm định chất lượng và xây dựng trường chuẩn quốc gia được xem là “thước đo” quan trọng của giáo dục phổ thông. Hàng chục nghìn cơ sở giáo dục đã trải qua các đợt tự đánh giá, đánh giá ngoài; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia liên tục tăng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.