Bài toán mới của Việt Nam

Có một sự dịch chuyển đang diễn ra rất rõ đó là công nghệ không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp tăng năng suất hay người dùng có thêm những tiện ích mới, mà đang trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh các nước đều tăng tốc, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và từng bước chuyển sang giai đoạn triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể.

Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh
Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh

Thiết kế bản đồ công nghệ chiến lược

Trong giai đoạn phát triển mới, nếu Việt Nam tiếp tục tiêu dùng công nghệ hoặc gia công sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Đứng trước ngã rẽ này, ngày 1/7/2026, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, thay thế cho Danh mục cũ và tạo ra bước ngoặt thể chế quan trọng. Quyết định đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, bao quát toàn diện các lĩnh vực từ AI, mạng di động thế hệ sau, robot, sinh học-y sinh, năng lượng-vật liệu tiên tiến; đến chip bán dẫn, an ninh mạng-lượng tử, biển-đại dương-lòng đất, hàng không-vũ trụ, đường sắt tốc độ cao-đường sắt đô thị. Có thể thấy, Việt Nam không dừng lại ở công nghệ số mà đã mở rộng sang những lĩnh vực có khả năng hình thành năng lực sản xuất dài hạn như công nghiệp chế tạo, năng lượng, tài nguyên, hạ tầng, sinh học và không gian.

Cùng với đó, 30 sản phẩm được chia thành 2 nhóm. 22 sản phẩm đã có thị trường, có khả năng tạo tác động kinh tế trực tiếp gồm: mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt-AI chuyên ngành, AI camera xử lý tại biên, bản sao số, cloud, blockchain, 5G/5G-Advanced, robot, sản xuất thông minh, vaccine, liệu pháp tế bào, cảm biến sinh học, vật liệu tiên tiến, pin-BESS, hydrogen xanh, thiết bị điện cao áp, CCUS và UAV. Còn 8 sản phẩm là công nghệ nền tảng, tạo động lực tăng trưởng mới và tăng cường năng lực tự chủ về an ninh, quốc phòng gồm: chip chuyên dụng, công nghệ lượng tử, chế biến sâu khoáng sản và đất hiếm, thăm dò biển sâu và lòng đất, lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), vệ tinh quỹ đạo thấp và các hệ thống đường sắt tốc độ cao.

Sau gần 5 tháng ban hành Danh mục, tính đến ngày 25/9 đã có 38 nhiệm vụ công nghệ chiến lược được đề xuất, trong đó 14 nhiệm vụ được các bộ, cơ quan phê duyệt với tổng kinh phí đề xuất gần 1.800 tỷ đồng (ngân sách nhà nước chiếm hơn 80%). So với các tháng trước đó, số lượng nhiệm vụ và tổng kinh phí đã tăng vọt phản ánh mức độ huy động nguồn lực ngày càng lớn. Các nhiệm vụ tập trung vào những lĩnh vực như vệ tinh quan sát trái đất, chip RF cho UAV, đường sắt tốc độ cao và bản sao số hệ thống năng lượng, với mục tiêu nhanh chóng tạo ra những sản phẩm chiến lược đầu tiên mang nhãn hiệu “Make in Vietnam”. Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết việc phê duyệt các nhiệm vụ công nghệ chiến lược, tuyển chọn các tổ chức chủ trì và ký hợp đồng thực hiện sẽ tập trung hoàn thiện trong tháng 11 và tháng 12/2026. Nhóm nhiệm vụ kéo dài 18-24 tháng sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2027-2028; nhóm nhiệm vụ thực hiện 36-60 tháng dự kiến kết thúc vào giai đoạn 2029-2031.

Những bước khởi động

Như vậy, bản đồ công nghệ chiến lược của Việt Nam về cơ bản đã được xác lập. Thách thức từ đây là chứng minh Việt Nam có thể biến những lựa chọn thành sản phẩm và giá trị thực đến đâu. Và chính con đường từ danh mục đến sản phẩm sẽ quyết định Việt Nam tham gia cuộc đua công nghệ với tư cách một thị trường tiếp nhận hay từng bước trở thành nơi tạo ra những công nghệ và sản phẩm của riêng mình. Với công nghệ chiến lược, thách thức không chỉ là tạo thêm sản phẩm, mà còn phải xây dựng được năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ đủ sâu để duy trì lợi thế lâu dài, bền vững.

Trước tình hình thực tế, Chính phủ đã yêu cầu đẩy nhanh chọn lựa tổ chức chủ trì các nhiệm vụ đã được phê duyệt và hoàn tất phê duyệt các nhiệm vụ đủ điều kiện còn lại. Đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ được yêu cầu tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng sự tham gia của doanh nghiệp. Bộ Công thương được giao xây dựng phương án thí điểm tạo đơn hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ chiến lược, trình cấp có thẩm quyền chậm nhất tháng 6/2027 (hoặc quý II/2027).

Có thể thấy, “đơn hàng đầu tiên” được kỳ vọng sẽ phá vòng luẩn quẩn của công nghệ mới khi doanh nghiệp cần khách hàng để hoàn thiện sản phẩm, trong khi khách hàng lại muốn sản phẩm đã được kiểm chứng. Thị trường ban đầu giúp doanh nghiệp có dữ liệu thực tế, tạo doanh thu, xây dựng uy tín và từng bước mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, về lâu dài, doanh nghiệp phải dựa vào năng lực công nghệ của chính mình để cạnh tranh, thay vì phụ thuộc vào sự hỗ trợ ban đầu.

Nguồn lực cho công nghệ chiến lược đang ngày càng được mở rộng, nhưng vốn lớn chưa đồng nghĩa với hiệu quả lớn. Quan trọng là nguồn lực phải được tập trung vào những nhiệm vụ có mục tiêu rõ ràng, đầu ra cụ thể và khả năng tạo sản phẩm, thị trường. PSG, TS Lâm Quang Vinh, Trưởng ban Khoa học và Công nghệ (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đưa ra một kinh nghiệm quốc tế: Cả Đạo luật CHIPS của Mỹ lẫn các chương trình công nghệ chiến lược của Hàn Quốc đều cho thấy thành công không đến từ việc chỉ rót tiền vào nghiên cứu đơn lẻ, mà từ xây dựng được một hệ sinh thái khép kín giữa nghiên cứu, sản xuất và đào tạo nhân lực.

Ở lĩnh vực AI, TS Nguyễn Văn Yên, Thành viên HĐTV VNPT, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “AI chủ quyền”, với các trụ cột gồm mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), trung tâm thử nghiệm quốc gia và tiêu chuẩn an toàn dữ liệu. Theo ông, làm chủ các nền tảng này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài, bảo đảm an ninh dữ liệu và tạo nền móng cho ngành công nghiệp số. Trong khi đó, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam Phan Đức Trung cho rằng việc đưa hạ tầng blockchain vào danh mục công nghệ chiến lược là bước đi phù hợp xu hướng xây dựng nền kinh tế số dựa trên dữ liệu có thể xác thực được nguồn gốc - một hạ tầng nền tảng cho nhiều lĩnh vực khác chứ không chỉ riêng tài chính số.

Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được phê duyệt tại Quyết định 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm, ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; sản phẩm thương mại hóa đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%; hình thành tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ hoặc sản phẩm chiến lược, với ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Những mục tiêu này cho thấy sự chuyển dịch trong cách đánh giá, từ số lượng sang hiệu quả thực chất, thể hiện qua sản phẩm, năng lực doanh nghiệp và khả năng tham gia thị trường.

Từ nghiên cứu đến thương mại hóa, công nghệ còn cần tiêu chuẩn, thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, nhân lực và hạ tầng để có thể đi đến thị trường. Vì vậy, thước đo cuối cùng không nằm ở số tiền đã phân bổ, mà ở giá trị được tạo ra, công nghệ lõi được làm chủ, sản phẩm có khách hàng, doanh nghiệp có khả năng mở rộng và ngày càng nhiều giá trị được tạo ra trong nước. Đây là một cuộc chạy marathon bền bỉ đòi hỏi tầm nhìn xa, sự kiên định về chính sách và cơ chế vận hành linh hoạt.

Theo Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới công bố, Việt Nam xếp hạng 43/139 quốc gia/nền kinh tế, tăng một bậc về chỉ số GII so với năm trước.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết, GII đã cung cấp bức tranh tổng thể, cho thấy điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam trong phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mạnh là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả, thể hiện ở việc Việt Nam duy trì hai chỉ số đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại tiếp tục dẫn đầu thế giới.

Điểm yếu là năng lực làm chủ công nghệ chưa tương xứng với thành tích xuất khẩu. Số liệu cho thấy mức độ tham gia vào chuỗi giá trị và năng lực công nghệ cần cải thiện, cần chuyển đổi từ lắp ráp sản phẩm do nước ngoài thiết kế sang tự thiết kế, sở hữu và kinh doanh công nghệ, phát triển thương hiệu trong nước và kết nối doanh nghiệp Việt với chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đầu tư đủ sâu và đi tới đích

Những lĩnh vực công nghệ chiến lược đã và đang được xác định, từng bước bố trí nguồn lực, chuyển sang triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể. Nhân dịp này, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp chia sẻ những góc nhìn để công nghệ chiến lược thật sự tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Giới thiệu sản phẩm UAV tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Mở cánh cửa kinh tế tầm thấp

Khi đất đai, biển và không gian mạng trở thành những nguồn lực phát triển quan trọng, tầng không gian thấp đang nổi lên như một biên giới kinh tế mới. Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã nhìn nhận thiết bị bay không người lái (UAV) là nền tảng có thể phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng dư địa tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Mô hình xe tự hành của Phenikaa-X. Ảnh | PX

Gỡ nút thắt với không gian thử nghiệm

Nhiều năm qua, hành trình đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Việt Nam luôn gặp khó ở điểm nghẽn quy chuẩn pháp lý. Lời giải cho nút thắt ấy chính là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Việc thành phố Hà Nội chính thức phê duyệt thử nghiệm hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ chế biến sâu đất hiếm hàm lượng cao là bước đi cụ thể cho thấy: Muốn công nghệ chiến lược bứt phá, thể chế phải chủ động mở đường và tiến cùng công nghệ.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam.

Đánh thức tiềm năng, khai thác hiệu quả

Phát triển du lịch văn hóa biển, đảo đứng trước nhiều cơ hội, tuy nhiên còn không ít thách thức, cần sớm tìm ra lời giải hữu hiệu. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực.

Trên nền biển nam Khánh Hoà, hàng trăm cánh diều bay lượn, tạo nên một bức tranh thể thao mạo hiểm đầy lôi cuốn và tươi mới. Ảnh | Tùng Lâm

NGUỒN LỰC NỘI SINH CỦA MỘT QUỐC GIA BIỂN MẠNH

Trả lời phỏng vấn phóng viên Nhân Dân hằng tháng, PGS,TS Bùi Hoài Sơn (ảnh dưới) - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh: “Một quốc gia biển mạnh phải biết làm giàu từ biển đồng thời biết gìn giữ biển; có kinh tế biển hiện đại nhưng vẫn có những làng biển giàu bản sắc; có đô thị biển thông minh nhưng không làm biến mất ký ức cộng đồng; vươn ra biển lớn nhưng luôn mang theo bản sắc và tâm hồn Việt Nam”.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi).

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG

Trong đời sống của những cộng đồng dân cư biển đảo, có những không gian đã âm thầm gìn giữ ký ức và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ðó có thể là một ngôi đình, một lăng thờ cá Ông, một nhà văn hóa hay những không gian lưu giữ, giới thiệu câu chuyện về vùng đất và con người nơi ấy. Nhưng những thiết chế không chỉ để nối dài ký ức. Chúng còn có thể trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng, nơi văn hóa được thực hành, trao truyền và tiếp tục bồi đắp.

Một tiết mục tại Carnaval Hạ Long 2026.

Lời mời gọi phía trùng khơi

Nằm ở vị trí cửa ngõ phía bắc nước ta, Hải Phòng và Quảng Ninh nổi tiếng bởi không gian biển đảo và thiên nhiên kỳ vĩ không chỉ có sóng, gió, những vách đá vôi sừng sững hay bãi cát trắng mịn, mà cả một không gian văn hóa trầm tích nhiều tầng nấc. Ðó là di sản của các nền văn hóa cổ Soi Nhụ, Hạ Long; là nhịp sống của những làng chài; là hệ thống lễ hội, tín ngưỡng dân gian và tri thức sinh kế miệt biển được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn chưa khép lại. Mỗi liệt sĩ còn nằm lại nơi chiến trường, mỗi ngôi mộ chưa xác định được danh tính là nỗi khắc khoải của biết bao gia đình và đồng đội suốt nhiều thập kỷ qua. Thời gian càng lùi xa, nhân chứng ngày càng ít, địa hình đổi thay, nhiều hồ sơ thất lạc hoặc không đầy đủ, khiến hành trình càng nhiều thách thức.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Trong nhiều năm, kiểm định chất lượng và xây dựng trường chuẩn quốc gia được xem là “thước đo” quan trọng của giáo dục phổ thông. Hàng chục nghìn cơ sở giáo dục đã trải qua các đợt tự đánh giá, đánh giá ngoài; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia liên tục tăng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.