Chuyển đổi số trong giáo dục:

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG
Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Trong cái khó ló cái hay

Nhìn lại những năm 2021-2022 khi đại dịch Covid-19 lan rộng cả nước, nhiều trường học phải đóng cửa dài ngày. Một giải pháp tình thế được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai “trường học đóng cửa, nhưng không dừng việc dạy học”. Khái niệm dạy học trực tuyến khi đó còn rất mới mẻ với nhiều nhà trường, không chỉ các trường vùng nông thôn, miền núi khó khăn mà cả ở thành thị.

Tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay thuộc Phú Thọ) là “tâm dịch” đầu tiên trên cả nước thời điểm ấy, học sinh phải nghỉ học kéo dài. Giữa những ngày đó, một thầy giáo đã âm thầm xây dựng kênh dạy học trực tuyến miễn phí cho học sinh tiểu học, rồi kéo nhiều đồng nghiệp tham gia. Đó là thầy hiệu trưởng Đào Chí Mạnh (từng ở Trường tiểu học Kim Ngọc sau này là Trường tiểu học Hội Hợp B, thành phố Vĩnh Yên cũ).

Cách làm của thầy Mạnh là xây dựng các video bài giảng cung cấp cho học sinh và phụ huynh. Bên cạnh đó, sẽ có các tiết học online tương tác trực tiếp. Ở các tiết học này, thầy Mạnh giải đáp thắc mắc, sửa bài, chốt kiến thức và giao nhiệm vụ học tập mới cho học sinh. Khi có đông học sinh muốn học, thầy Mạnh hướng dẫn cho một số giáo viên để lập “team dạy trực tuyến miễn phí” trên nền tảng mình thiết kế. Có thời điểm số học sinh vào học, tương tác lên tới 6.000-7.000.

Khi dịch lan rộng, từ 1-2 trường thử nghiệm, việc triển khai dạy học trực tuyến lan ra cả nước, ở các cấp học, các địa phương bao gồm cả những khu vực khó khăn. Không còn “tự phát” mà là nhiệm vụ bắt buộc chỉ đạo trong toàn ngành giáo dục.

Trong cái khó, ló cái hay. Thành quả của nỗ lực thời chống dịch đã cho nhiều trường một nền tảng dạy học trực tuyến, ứng dụng các phần mềm khác nhau vào dạy học, giáo dục và quản trị nhà trường. Hơn thế là tư duy thích ứng, linh hoạt ứng dụng công nghệ vào dạy học. Nhiều trường những năm sau đại dịch vẫn duy trì hệ thống trực tuyến để phục vụ hoạt động quản lý chuyên môn như sinh hoạt chuyên môn, họp hành, tổ chức hội thảo, hội nghị, thiết lập hệ thống sổ sách, giáo án điện tử, xây dựng nguồn tài liệu dùng chung, ngân hàng câu hỏi ôn tập, phần mềm quản lý, đánh giá học sinh... Một số trường học vẫn duy trì nền tảng trực tuyến để bố trí một số tiết học, hay sử dụng để hướng dẫn ôn tập, giao nhiệm vụ học tập.

Các lớp học kết nối linh hoạt

Kế tiếp giai đoạn vượt khó trong đại dịch là triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới với bối cảnh thiếu giáo viên, thiếu phòng lớp học, chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng miền. Ứng dụng công nghệ vào hoạt động giáo dục nhà trường lúc này trước hết là giải pháp cấp bách để thực hiện yêu cầu đổi mới.

Mô hình “lớp học kết nối” trở nên phổ biến. Đó là kiểu lớp học thông qua nền tảng trực tuyến để thực hiện dạy học cho học sinh ở các không gian khác nhau. Bên cạnh đó, tiếp tục duy trì hình thức dạy học trực tuyến, do giáo viên vùng thuận lợi hỗ trợ vùng khó khăn. Việc “kết nối” không chỉ nhằm giải quyết câu chuyện thiếu giáo viên mà còn là giải pháp đổi mới phương pháp dạy học, gắn bài học với thực tiễn, rút ngắn khoảng cách chênh lệch chất lượng giữa các vùng miền.

Theo cô Nguyễn Thị Thơm, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học Khánh Yên (Lào Cai), mỗi năm học, trường yêu cầu mỗi giáo viên phải thiết kế dạy 3-6 tiết học kết nối. Giáo viên chủ động liên hệ với giáo viên trường khác, hay các chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học, nghệ sĩ, nghệ nhân để xây dựng các tiết học kết nối.

Chỉ riêng Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai trong năm học trước đã triển khai khoảng gần 8 nghìn hoạt động kết nối giữa các điểm trường trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, có gần 1 nghìn hoạt động kết nối giữa trường học ở Lào Cai với trường học ở Ninh Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và 348 hoạt động kết nối với trường học ở các quốc gia: Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Thái Lan, Philippines…

Hình thức dạy học này nhanh chóng lan rộng, phổ biến không chỉ ở các đô thị mà nhiều địa phương khó khăn.

Thời của AI

Trong hai năm học gần đây, nhiều địa phương đã tổ chức các chuyên đề tập huấn sử dụng AI cho giáo viên, đưa nội dung ứng dụng AI vào sinh hoạt tổ chuyên môn trong các nhà trường, đặt ra trong nhiệm vụ trọng tâm của năm học. Ứng dụng AI vào dạy học cũng là thôi thúc của cá nhân nhiều thầy, cô giáo.

Hiểu và ứng dụng AI không chỉ giảm bớt những công việc mang tính thủ công, nâng chất lượng dạy học mà còn là yêu cầu bắt buộc để giáo viên biết hướng dẫn, học sinh sử dụng AI một cách tích cực, phù hợp, phục vụ học tập, kiểm soát, ngăn ngừa học sinh sử dụng AI vào các mục đích tiêu cực.

Từ thí điểm của các nhà trường, một số địa phương đã đưa tiết học AI vào chương trình. Tại Trường THCS Trưng Vương (Hà Nội) tiết dạy AI dành cho học sinh lớp 6. Theo thầy Nguyễn Phan Anh, muốn học sinh sử dụng AI đúng và hiệu quả cần phải cho các em biết hết năng lực của AI, những gì AI có thể làm tốt, những gì AI khó thay thế được bộ não con người, việc sử dụng và kết nối giữa các năng lực khác nhau của AI để đạt được kết quả gần với mong muốn của mình nhất.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết, hầu hết giáo viên các trường tiểu học, THCS, THPT đều được tập huấn và triển khai ứng dụng AI trong dạy học từ cơ bản đến nâng cao, tùy theo môn học, lớp học áp dụng các mức độ khác nhau.

“AI giúp nhiều nhất trong công tác chủ nhiệm. Cụ thể như việc nắm thông tin về hoàn cảnh, về điểm mạnh, yếu của học sinh đến việc theo dõi quá trình tự cố gắng, rèn luyện, thậm chí “trợ lý AI” có thể hỗ trợ, gợi ý ý tưởng về hoạt động trải nghiệm, lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp” - thầy Trần Văn Huy, Trường THPT Phan Huy Chú (Hà Nội) cho biết.

Nhìn lại bước sải dài của việc ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo, có hai điểm thú vị. Thứ nhất là từ thời hậu Covid-19 đến giai đoạn thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, hành trình tiếp cận với công nghệ, trí tuệ nhân tạo không chỉ được đẩy mạnh ở vùng thuận lợi mà trong nhiều trường hợp, những “điểm sáng” lại được minh chứng ở nơi khó khăn. Thứ hai, sự lan tỏa mạnh mẽ trong việc chiếm lĩnh công nghệ được nhìn thấy rõ nét ở chiều ngang: Trường với trường, giáo viên với giáo viên, chuyên gia với giáo viên, học sinh. Những sáng kiến đi từ cơ sở, địa phương trở thành cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện hành lang pháp lý.

Về nguy cơ bất bình đẳng ở thời đại chuyển đổi số, Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận định: “Hạ tầng số vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương. Việc đầu tư phần mềm còn phân tán, nhiều hệ thống chưa bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu theo chuẩn chung, dẫn đến trùng lặp chức năng và chưa khai thác hiệu quả dữ liệu. Năng lực số của giáo viên, học sinh ở nhiều địa phương có điều kiện giáo dục khó khăn còn thấp, trong khi việc tập huấn, tiếp cận các sản phẩm công nghệ hạn chế”.

Tuy vậy, theo các chuyên gia giáo dục thì nếu khắc phục các hạn chế được chỉ ra ở trên thì ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo lại tạo nên sự đổi chiều, là giải pháp mạnh để thu hẹp khoảng cách chất lượng giáo dục, tạo cơ hội cho người học ở vùng khó khăn tiếp cận nhiều hơn với nền giáo dục tiến bộ, thúc đẩy cải thiện chất lượng giáo dục.

a545.jpg

Có thể bạn quan tâm

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đầu tư đủ sâu và đi tới đích

Những lĩnh vực công nghệ chiến lược đã và đang được xác định, từng bước bố trí nguồn lực, chuyển sang triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể. Nhân dịp này, các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện doanh nghiệp chia sẻ những góc nhìn để công nghệ chiến lược thật sự tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Giới thiệu sản phẩm UAV tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam.

Mở cánh cửa kinh tế tầm thấp

Khi đất đai, biển và không gian mạng trở thành những nguồn lực phát triển quan trọng, tầng không gian thấp đang nổi lên như một biên giới kinh tế mới. Kết luận 99-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy Việt Nam đã nhìn nhận thiết bị bay không người lái (UAV) là nền tảng có thể phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng dư địa tăng trưởng trong nhiều thập niên tới.

Mô hình xe tự hành của Phenikaa-X. Ảnh | PX

Gỡ nút thắt với không gian thử nghiệm

Nhiều năm qua, hành trình đưa một công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường ở Việt Nam luôn gặp khó ở điểm nghẽn quy chuẩn pháp lý. Lời giải cho nút thắt ấy chính là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Việc thành phố Hà Nội chính thức phê duyệt thử nghiệm hệ thống giao thông tự hành thông minh và công nghệ chế biến sâu đất hiếm hàm lượng cao là bước đi cụ thể cho thấy: Muốn công nghệ chiến lược bứt phá, thể chế phải chủ động mở đường và tiến cùng công nghệ.

Một số sản phẩm được giới thiệu tại Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, tháng 6/2026. Ảnh | Hùng Anh

Bài toán mới của Việt Nam

Có một sự dịch chuyển đang diễn ra rất rõ đó là công nghệ không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp tăng năng suất hay người dùng có thêm những tiện ích mới, mà đang trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh các nước đều tăng tốc, Việt Nam đã xác định danh mục công nghệ chiến lược và từng bước chuyển sang giai đoạn triển khai các nhiệm vụ, sản phẩm cụ thể.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam.

Đánh thức tiềm năng, khai thác hiệu quả

Phát triển du lịch văn hóa biển, đảo đứng trước nhiều cơ hội, tuy nhiên còn không ít thách thức, cần sớm tìm ra lời giải hữu hiệu. Trao đổi với phóng viên Nhân Dân hằng tháng, các chuyên gia đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi).

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG

Trong đời sống của những cộng đồng dân cư biển đảo, có những không gian đã âm thầm gìn giữ ký ức và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ðó có thể là một ngôi đình, một lăng thờ cá Ông, một nhà văn hóa hay những không gian lưu giữ, giới thiệu câu chuyện về vùng đất và con người nơi ấy. Nhưng những thiết chế không chỉ để nối dài ký ức. Chúng còn có thể trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng, nơi văn hóa được thực hành, trao truyền và tiếp tục bồi đắp.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.

TS Trần Đình Cường

“Phát triển xanh là xu thế không thể đảo ngược”

Là người gắn bó với các bước thăng trầm của kinh tế Việt Nam từ thời kỳ đầu đổi mới đến nay, với uy tín được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ghi nhận, TS Trần Đình Cường - Chủ tịch Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (EY), đã chia sẻ cùng Nhân Dân hằng tháng câu chuyện nền kinh tế xanh, bền vững mà Việt Nam đang hướng tới.