NGUỒN LỰC NỘI SINH CỦA MỘT QUỐC GIA BIỂN MẠNH

Trả lời phỏng vấn phóng viên Nhân Dân hằng tháng, PGS,TS Bùi Hoài Sơn (ảnh dưới) - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh: “Một quốc gia biển mạnh phải biết làm giàu từ biển đồng thời biết gìn giữ biển; có kinh tế biển hiện đại nhưng vẫn có những làng biển giàu bản sắc; có đô thị biển thông minh nhưng không làm biến mất ký ức cộng đồng; vươn ra biển lớn nhưng luôn mang theo bản sắc và tâm hồn Việt Nam”.

Trên nền biển nam Khánh Hoà, hàng trăm cánh diều bay lượn, tạo nên một bức tranh thể thao mạo hiểm đầy lôi cuốn và tươi mới. Ảnh | Tùng Lâm
Trên nền biển nam Khánh Hoà, hàng trăm cánh diều bay lượn, tạo nên một bức tranh thể thao mạo hiểm đầy lôi cuốn và tươi mới. Ảnh | Tùng Lâm

Khi ký ức, bản sắc trở thành tài nguyên sáng tạo

Phóng viên: Thưa PGS,TS Bùi Hoài Sơn, Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV xác định xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trong đó có yêu cầu xây dựng “văn hóa biển giàu bản sắc”. Cần nhìn nhận văn hóa biển, đảo như thế nào để trở thành nguồn lực, động lực cho phát triển kinh tế biển và du lịch bền vững?

1711.jpg

PGS,TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, trước hết cần thay đổi cách nhìn về văn hóa biển. Văn hóa biển không phải là phần “trang trí” đi sau phát triển kinh tế biển, càng không chỉ là một tập hợp lễ hội, phong tục hay di sản nằm ven bờ. Đó là toàn bộ hệ giá trị, tri thức, ký ức, lối sống, bản lĩnh và cách con người Việt Nam ứng xử với biển qua nhiều thế hệ. Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định phải xây dựng “văn hóa biển giàu bản sắc”, đồng thời coi văn hóa biển là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia biển, đây là một bước chuyển rất quan trọng về tư duy.

Một quốc gia biển mạnh không chỉ có cảng lớn, đội tàu hiện đại, năng lượng ngoài khơi hay những khu du lịch quy mô lớn. Quốc gia ấy còn phải có một tâm thế hướng biển, một hệ giá trị biển và những cộng đồng cư dân biển giàu bản sắc, có đời sống tốt, có khả năng làm chủ không gian sinh tồn của mình. Nói cách khác, chúng ta phải làm cho biển hiện diện không chỉ trong bản đồ kinh tế, mà trong đời sống tinh thần, trong giáo dục, nghệ thuật, du lịch, thương hiệu quốc gia và khát vọng phát triển của mỗi người Việt Nam.

Đối với du lịch, đây càng là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp. Du khách hôm nay không chỉ đi tìm một bãi biển đẹp. Họ tìm kiếm câu chuyện, trải nghiệm, ký ức, ẩm thực, lễ hội, lối sống và sự khác biệt của một vùng đất. Nếu một điểm đến biển chỉ có khách sạn, nhà hàng và bãi tắm thì rất dễ giống một điểm đến khác. Nhưng nếu ở đó có câu chuyện của làng chài, lễ cầu ngư, hát bả trạo, nghề làm nước mắm, tri thức về đóng thuyền, những câu chuyện lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa, về những thế hệ ngư dân bám biển, thì biển trở thành một không gian văn hóa có chiều sâu.

Vì thế, phát triển kinh tế biển bền vững phải đi cùng phát triển văn hóa biển. Văn hóa tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm, nâng giá trị gia tăng của du lịch, tạo sinh kế cho cộng đồng và quan trọng hơn, giúp chúng ta phát triển mà không đánh mất mình. Khi bản sắc trở thành giá trị, ký ức trở thành tài nguyên sáng tạo và người dân thật sự được hưởng lợi từ di sản của chính họ, văn hóa biển sẽ trở thành một động lực phát triển rất bền vững.

- Việt Nam có nhiều di sản, lễ hội, tín ngưỡng, nghề truyền thống và tri thức dân gian gắn với biển, đảo. Theo ông, làm thế nào để các giá trị văn hóa biển, đảo trở thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, có giá trị kinh tế cao, nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của cộng đồng địa phương và giữ gìn bản sắc, môi trường biển?

Theo tôi, vấn đề quan trọng không phải là có nên “khai thác” di sản cho du lịch hay không, mà là khai thác như thế nào để di sản được sống tốt hơn, cộng đồng sống tốt hơn và môi trường được bảo vệ tốt hơn.

Tôi thường hình dung cần có một chuỗi chuyển hóa: từ di sản thành câu chuyện; từ câu chuyện thành trải nghiệm; từ trải nghiệm thành sản phẩm và từ sản phẩm tạo ra sinh kế, niềm tự hào và động lực bảo tồn. Chẳng hạn, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) không nên chỉ được nhìn như một sự kiện để thu hút đông người, mà có thể trở thành trung tâm của một hệ sinh thái trải nghiệm về lịch sử, ký ức cộng đồng, nghề biển, ẩm thực, bảo tàng, không gian kể chuyện và giáo dục chủ quyền. Cũng như vậy, lễ cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, nghề làm nước mắm hay tri thức dân gian dự báo thời tiết, nhận biết luồng cá…đều có thể được sáng tạo thành những sản phẩm du lịch có chiều sâu nếu chúng ta tôn trọng chủ thể văn hóa.

Tôi nhấn mạnh chữ “chủ thể”. Người dân địa phương không thể chỉ là người trình diễn còn doanh nghiệp là người thu lợi. Cộng đồng phải được tham gia ngay từ khâu xây dựng ý tưởng, xác định giới hạn khai thác, tổ chức dịch vụ và phân chia lợi ích.

Những “cột mốc văn hóa” trong tâm thức cộng đồng

- Biển đảo vừa là không gian văn hóa, sinh tồn, phát triển kinh tế vừa gắn với chủ quyền quốc gia. Việc phát huy văn hóa biển, đảo góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, thưa ông?

Tôi cho rằng văn hóa biển chính là một phần rất sâu của “thế trận lòng dân” trên biển. Chủ quyền trước hết được khẳng định bằng các căn cứ lịch sử, pháp lý và bằng việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán phù hợp luật pháp quốc tế. Nhưng để chủ quyền trở thành một ý thức bền vững trong xã hội, để mỗi người dân cảm thấy biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, thì văn hóa có vai trò đặc biệt.

Những địa danh, lễ hội, gia phả, sắc phong, nghi lễ, câu chuyện dân gian, nghề biển, tri thức hàng hải, ký ức của các dòng họ và cộng đồng cư dân ven biển chính là những lớp trầm tích cho thấy mối quan hệ lâu dài, liên tục của người Việt với biển. Những giá trị ấy không thay thế các căn cứ pháp lý về chủ quyền, nhưng chúng làm cho nhận thức chủ quyền có chiều sâu lịch sử và sức sống xã hội. Có thể nói, mỗi di sản biển được gìn giữ là một “cột mốc văn hóa” trong tâm thức cộng đồng.

Tôi đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục và truyền thông. Chúng ta cần kể câu chuyện biển đảo theo cách gần gũi hơn với thế hệ trẻ, không chỉ bằng những bài học mang tính khái niệm mà bằng bảo tàng số, phim tài liệu, trò chơi, bản đồ tương tác, truyện tranh, nghệ thuật, các hành trình trải nghiệm di sản, những cuộc gặp với ngư dân và cư dân đảo. Khi người trẻ hiểu một lễ hội ở Lý Sơn, một làng chài ở miền trung, một nghề truyền thống ven biển hay một chuyến hải trình của cha ông có ý nghĩa gì, tình yêu biển đảo sẽ không còn là một khẩu hiệu xa xôi.

Bên cạnh đó, bảo vệ chủ quyền cũng gắn với xây dựng những cộng đồng cư dân biển mạnh. Một ngư dân có sinh kế ổn định, được bảo đảm an sinh, được tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng số và được tôn trọng như một chủ thể văn hóa chính là một lực lượng rất quan trọng trong bảo vệ không gian biển. Vì thế, phát huy văn hóa biển không chỉ là bảo tồn ký ức quá khứ, mà còn là bồi đắp bản lĩnh, niềm tự hào, trách nhiệm công dân và khát vọng vươn ra biển lớn trong hiện tại.

- Ông có thể đề xuất một số giải pháp trong thời gian tới để văn hóa biển, đảo thật sự trở thành một trụ cột của phát triển du lịch, kinh tế biển và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh?

Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải đưa văn hóa biển ra khỏi vị trí của một nội dung bổ trợ để trở thành một cấu phần thật sự trong chiến lược phát triển quốc gia biển mạnh. Muốn vậy, cần hành động đồng bộ nhưng có thể tập trung vào năm nhóm giải pháp lớn.

Trước hết, phải nhận diện và kiến tạo một hệ giá trị văn hóa biển Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó là lòng yêu nước, tinh thần làm chủ, ý chí tự lực tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn, khả năng thích ứng với thiên nhiên, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm với các thế hệ tương lai. Những giá trị ấy cần được lan tỏa trong giáo dục, truyền thông, nghệ thuật, đời sống cộng đồng và cả văn hóa doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực biển.

Thứ hai, cần tổng kiểm kê, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu mở về di sản văn hóa biển, đảo. Mục tiêu số hóa 100% di sản văn hóa biển đến năm 2030 mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra không nên chỉ được hiểu là chụp ảnh, lập hồ sơ rồi lưu trữ. Dữ liệu phải trở thành nguyên liệu cho giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo, thiết kế sản phẩm du lịch, phim ảnh, bảo tàng số và các ngành công nghiệp văn hóa.

Thứ ba, cần hình thành những hệ sinh thái du lịch biển dựa trên bản sắc, thay vì phát triển những sản phẩm rời rạc. Mỗi vùng biển nên có một câu chuyện riêng, một thương hiệu riêng, một chuỗi trải nghiệm kết nối di sản-ẩm thực-nghệ thuật-sinh thái-nghề truyền thống-đời sống cộng đồng. Khi ấy, du khách không chỉ “đến biển” mà thật sự “hiểu biển” và “sống cùng văn hóa biển”.

Thứ tư, phải đặt cộng đồng cư dân biển vào trung tâm. Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp tạo thị trường, chuyên gia hỗ trợ tri thức và sáng tạo, nhưng người dân phải là chủ thể. Cần có cơ chế để cộng đồng được tham gia ra quyết định, được đào tạo kỹ năng, tiếp cận vốn, công nghệ, nền tảng số và thụ hưởng xứng đáng từ giá trị kinh tế tạo ra trên chính không gian văn hóa của họ.

Cuối cùng, mọi phát triển phải được đặt trong giới hạn sinh thái và gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền. Tôi rất đồng tình với tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW là không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển. Ảnh | Thành Đạt

“Mỏ vàng” đang chờ khai thác

Không chỉ sở hữu bờ biển với chiều dài 3.260 km uốn cong mềm mại “từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước”, Việt Nam còn may mắn sở hữu tới hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Tất cả đã làm nên một móng nền vững chắc, để từ đó hình thành một không gian văn hóa biển, đảo vô cùng rộng lớn với tài nguyên nhân văn đồ sộ mà lớp lớp cha ông dành bao đời tạo dựng, đắp bồi.

Những điều kiện học tập mới đang mở thêm cơ hội cho học sinh vùng biên. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Đột phá chính sách, hạ tầng, tạo cơ hội thực chất

Bảo đảm tiếp cận công bằng trong giáo dục không chỉ dừng lại ở cơ hội đến trường, mà phải hướng tới chất lượng phát triển thực chất cho mọi người học. Chung quanh câu chuyện chuyển mạnh từ “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”, thu hẹp khoảng cách vùng miền và tối ưu hóa nguồn lực, Nhân Dân hằng tháng đã trao đổi với đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, các nhà trường. Qua đó, làm rõ những giải pháp đột phá nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và học tập suốt đời.

Hội nghị thông qua quyết định đổi tên tại Trường tiểu học Mỹ Hào số 3 (tỉnh Hưng Yên). Ảnh | VĂN MỸ

Chú trọng phát huy vai trò người thầy

Công bằng giáo dục không chỉ được quyết định bởi việc trẻ em có được đến trường hay không. Quan trọng hơn, các em được học với giáo viên nào, trong điều kiện ra sao và có nhận được sự hỗ trợ phù hợp nhu cầu của mình hay không. Vì vậy, đầu tư cho đội ngũ nhà giáo không chỉ là đầu tư cho nhân lực ngành giáo dục, mà còn là đầu tư trực tiếp cho chất lượng và công bằng xã hội.

Nhiều nhà trường cho phép học sinh sử dụng máy tính kết nối mạng để học tập dưới sự giám sát của giáo viên. Ảnh | QUỲNH TRANG

Bước sải dài hy vọng

Ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang là xu thế tất yếu. “Người trong cuộc” đã đón nhận thế nào?

Tạo môi trường học tập tốt hơn đang là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn với ngành giáo dục.

Vẽ lại bản đồ trường học

Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều trường nội trú liên cấp ở vùng biên đang gấp rút hoàn thiện; cùng lúc, mạng lưới trường học trên cả nước được sắp xếp lại với quy mô lớn. Nơi xây thêm, nơi giảm đầu mối, bản đồ trường học đang được vẽ lại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bồi đắp nguồn nhân lực cho chặng đường phát triển mới của đất nước.

Học sinh luôn là trung tâm trong mọi cuộc đổi mới, cải cách giáo dục. Ảnh | PHÚ CƯỜNG

Từ quyền được học đến quyền được học tốt

Công bằng giáo dục được tạo nên từ những thành tựu bền bỉ qua nhiều thập niên. Việt Nam đã đi từ xóa mù chữ, phổ cập đến mở rộng trường lớp trên hầu khắp các vùng miền. Quyền học tập được bảo đảm bằng hệ thống trường công, miễn, giảm học phí và hỗ trợ vùng khó khăn. Đó là nền tảng để chuyển từ đưa trẻ em đến trường sang giúp các em học tốt.

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Tìm kiếm, xác định danh tính liệt sĩ & đạo lý tri ân

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn chưa khép lại. Mỗi liệt sĩ còn nằm lại nơi chiến trường, mỗi ngôi mộ chưa xác định được danh tính là nỗi khắc khoải của biết bao gia đình và đồng đội suốt nhiều thập kỷ qua. Thời gian càng lùi xa, nhân chứng ngày càng ít, địa hình đổi thay, nhiều hồ sơ thất lạc hoặc không đầy đủ, khiến hành trình càng nhiều thách thức.

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Bảo vệ tài sản trí tuệ trong đời sống số

Trong kỷ nguyên số, xâm phạm sở hữu trí tuệ ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực xã hội và diễn biến ngày càng phức tạp. Phía sau những con số và vụ án bị phanh phui, có một thực tế đang diễn ra hằng ngày và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu người Việt, đó là cuộc xâm lăng thầm lặng lên những sáng tạo của mỗi cá nhân trên không gian mạng.

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Bước chuyển từ kiểm định sang quản trị

Trong nhiều năm, kiểm định chất lượng và xây dựng trường chuẩn quốc gia được xem là “thước đo” quan trọng của giáo dục phổ thông. Hàng chục nghìn cơ sở giáo dục đã trải qua các đợt tự đánh giá, đánh giá ngoài; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia liên tục tăng.

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Hồ chứa lớn & bài toán phát triển bền vững

Trong cấu trúc hạ tầng tài nguyên của Việt Nam, hệ thống hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy lợi và thủy điện giữ vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh.

Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nỗ lực hướng tới mục tiêu chuyển đổi theo mô hình Tập đoàn.

Đổi mới tư duy, nâng cao năng lực cạnh tranh

Tính đến tháng 9/2025, cả nước có 843 doanh nghiệp đang có vốn nhà nước, trong đó 687 đơn vị do Nhà nước giữ chi phối (sở hữu hơn 50%). Khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, ngân hàng…

Chiến lược cho tương lai

Chiến lược cho tương lai

Trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là khái niệm viễn tưởng mà ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều ngành nghề và đời sống xã hội, Việt Nam đang đứng trước cơ hội chiến lược mang tầm quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Nhiệm vụ trọng tâm phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, tay nghề cao trở nên cấp thiết. Các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi lực lượng lao động không chỉ nắm vững kỹ năng thực hành, mà còn thích ứng nhanh với chuyển đổi số, công nghệ mới.

TS Trần Đình Cường

“Phát triển xanh là xu thế không thể đảo ngược”

Là người gắn bó với các bước thăng trầm của kinh tế Việt Nam từ thời kỳ đầu đổi mới đến nay, với uy tín được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ghi nhận, TS Trần Đình Cường - Chủ tịch Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (EY), đã chia sẻ cùng Nhân Dân hằng tháng câu chuyện nền kinh tế xanh, bền vững mà Việt Nam đang hướng tới.