Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH
Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bức tranh tài chính ngành ngân hàng trong quý II/2026 tiếp tục ghi nhận sự phục hồi tích cực về cả lợi nhuận lẫn biên lãi thuần. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng, ngành ngân hàng đang đối mặt với bài toán đánh đổi giữa mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn, rủi ro lệch pha thời gian giữa vốn vay và vốn gửi, cùng yêu cầu duy trì bộ đệm dự phòng rủi ro tài sản.

Kiếm lãi tốt, nợ xấu gia tăng

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho biết, trong phạm vi phân tích 27 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán thì tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ từ 1,86% cuối năm 2025 lên 2,01% cuối quý II/2026 (tương đương tăng 0,15 điểm phần trăm), nhưng gần như đi ngang so quý I/2026.

Đáng chú ý, nợ nhóm 2 cũng tiếp tục gia tăng. Tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng 0,22 điểm phần trăm so cuối năm trước, lên 1,38% trong quý II/2026. Bộ đệm dự phòng rủi ro tiếp tục thu hẹp, với tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR-tỷ lệ quỹ dự phòng trên tổng nợ xấu) giảm còn 79% trong quý II/2026 từ mức 83% cuối năm 2025. Tuy nhiên cũng có điểm tích cực là lợi nhuận trước thuế tăng 19,6% so cùng kỳ trong sáu tháng đầu năm 2026.

Theo bà Lương Bội San, Phụ trách Bộ phận nghiên cứu nhóm ngân hàng S&I Ratings, trong quý II/2026, mặt bằng chung của toàn ngành cho thấy nợ xấu và lợi nhuận đều tăng mạnh. Hai yếu tố này không hoàn toàn mâu thuẫn với nhau.

Thứ nhất, nợ xấu tăng mạnh nhưng cũng có thể là do ngân hàng đã chủ động trích lập quỹ dự phòng rủi ro mạnh tay từ trước, đồng thời còn phụ thuộc vào chiến lược trích lập của từng ngân hàng trong từng kỳ.

Thứ hai, lợi nhuận của ngân hàng không chỉ đến từ hoạt động cho vay mà còn đến từ các nguồn thu nhập ngoài lãi, như hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán...

Trong sáu tháng đầu năm, lợi nhuận toàn ngành ngân hàng tăng khá ấn tượng, đến từ động lực chính gồm thu nhập lãi thuần, thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Các ngân hàng vẫn tiếp tục kiểm soát chi phí khá tốt.

“Theo quan sát của chúng tôi, nợ xấu trong thời gian vừa qua tập trung nhiều hơn ở các ngân hàng thiên về cho vay khách hàng cá nhân và bán lẻ. Trong khi đó, tại các ngân hàng thiên về cho vay doanh nghiệp lớn, chất lượng tài sản nhìn chung ổn định hơn”, bà Lương Bội San nhận định.

Biên lãi thuần NIM (mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi) luôn được giới chuyên gia xem là thước đo cốt lõi để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Điểm đáng chú ý trong bức tranh tài chính gần đây là dù mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao, NIM của các ngân hàng vẫn ghi nhận đà tăng trưởng tích cực nhờ sự linh hoạt trong việc cơ cấu lại danh mục cho vay và tối ưu hóa chi phí.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), NIM trong quý II/2026 tăng khoảng 0,2 điểm phần trăm so quý I và cải thiện nhẹ khoảng 0,05 điểm phần trăm so cùng kỳ năm 2025. Giải thích về nguyên nhân hỗ trợ NIM, ông Đỗ Thanh Tùng cho biết, các ngân hàng đã chủ động tái cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn, đồng thời bắt đầu điều chỉnh lại lãi suất của những khoản vay đang áp dụng mức lãi suất thả nổi, trong khi chi phí đầu vào của nguồn vốn vẫn được kiểm soát tương đối tốt.

Cùng chung quan điểm về các yếu tố thúc đẩy biên lãi thuần, bà Lương Bội San cho rằng, mức tăng NIM trong quý II đến từ ba động lực chính. Theo bà Lương Bội San phân tích, các khoản vay mua nhà đã hết thời hạn ưu đãi và chuyển sang áp dụng lãi suất thả nổi theo thị trường, phổ biến ở mức 12-15%. Các ngân hàng tiếp tục tối ưu tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR-chỉ số đo lường mức độ sử dụng tiền gửi để cho vay) và đẩy mạnh cho vay trung, dài hạn. Tuy nhiên, bà Lương Bội San cũng cảnh báo việc phục hồi NIM chưa thật sự bền vững do lãi suất cho vay tăng làm gia tăng áp lực trả nợ của khách hàng, tiềm ẩn rủi ro nợ xấu và rủi ro chênh lệch thời hạn giữa nguồn vốn huy động và khoản vay.

Ngân hàng sẽ sớm giảm lãi suất

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, tăng trưởng huy động hiện cao hơn tín dụng. Tính đến ngày 22/8, huy động vốn bằng tiền đồng tăng 8,77% so đầu năm, cao hơn mức tăng dư nợ tín dụng 8,38%.

Ông Nguyễn Minh Tuấn, CEO AFA Capital (công ty quản lý tài chính doanh nghiệp và cá nhân) nhìn nhận, tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng đang cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Đây là một tín hiệu tích cực, bởi trong thời gian qua, thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực, buộc các ngân hàng phải tăng cường huy động và đẩy lãi suất tiền gửi lên khá cao.

Khi nguồn vốn đã dồi dào, các ngân hàng không còn phải chạy đua nâng lãi suất tiền gửi để thu hút vốn từ người dân hay doanh nghiệp. Việc chi phí nguồn vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng, các ngân hàng vẫn sẽ có những đợt giảm lãi suất nhất định ở một số lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, kinh doanh theo định hướng của Chính phủ. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng sẽ tiếp tục cơ cấu lại thời hạn của các khoản vay để cân bằng mức giảm lãi suất, qua đó bảo vệ khả năng sinh lời và tránh việc biên lợi nhuận bị suy giảm quá mạnh.

Bên cạnh đó, các ngân hàng kỳ vọng nguồn tiền trong hệ thống có thể quay trở lại thông qua nhiều giải pháp khác nhau. Chẳng hạn, bằng việc đẩy mạnh chuyển đổi số và tối ưu hóa chính sách sản phẩm, các ngân hàng có thể gia tăng tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA), qua đó tối ưu hóa chi phí vốn nhằm giảm thiểu tác động của việc giảm lãi suất cho vay đối với kết quả lợi nhuận.

Bà Lương Bội San cho rằng, trong thời gian tới, kỳ vọng đà tăng trưởng huy động vốn toàn ngành sẽ tiếp tục cải thiện khi mặt bằng lãi suất đã ở mức tương đối cao. Ngoài ra, còn một yếu tố khác là dòng tiền có thể dần quay trở lại hệ thống ngân hàng khi tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh về cuối năm.

Ở khía cạnh khác, mặt bằng lãi suất trong nước có thể đã gần tạo đỉnh. Mặc dù khó có khả năng giảm mạnh trong ngắn hạn khi nhu cầu vốn của các ngân hàng vẫn ở mức cao, nhưng các ngân hàng vẫn còn dư địa để tiếp tục tăng trưởng tín dụng cũng như giảm lãi suất cho vay trong thời gian tới.

Để giải quyết bài toán thanh khoản và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, các chuyên gia kỳ vọng lớn vào dòng tiền từ đầu tư công.

Theo Công ty chứng khoán KBSV, giải ngân đầu tư công dự kiến sẽ tăng tốc trong phần còn lại của năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, qua đó giải phóng nguồn vốn dồi dào từ ngân sách nhà nước chảy vào hệ thống ngân hàng.

Đánh giá về cơ chế quản lý, ông Đinh Minh Trí, Giám đốc phân tích Khối Khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Mirae Asset (MAS) nhận định, việc Chính phủ thực hiện cơ chế thí điểm chấm điểm KPI đối với các bộ, ngành, địa phương sẽ là cú huých nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Ông Đinh Minh Trí kỳ vọng khả năng hoàn thành mục tiêu giải ngân đầu tư công hơn 95% trong năm 2026 sẽ tạo nền tảng tích cực cho thanh khoản toàn hệ thống.

Khi vốn ngân sách nhà nước được giải ngân, một lượng tiền lớn sẽ chảy từ Kho bạc Nhà nước vào tài khoản của các ngân hàng thương mại. Nguồn tiền này làm gia tăng thanh khoản toàn hệ thống, giúp các ngân hàng bớt căng thẳng về nguồn vốn huy động. Khi thanh khoản dồi dào, các ngân hàng không còn phải đua nhau nâng lãi suất tiền gửi để hút vốn từ người dân hay doanh nghiệp. Việc chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay.

Có thể bạn quan tâm

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.