Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH
Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Ngân hàng đang quá tải

Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, lãi suất liên ngân hàng dù đã hạ nhiệt so với mức đỉnh kỷ lục trong quý I/2026, nhưng vẫn neo ở mức cao trong quý II do áp lực thanh khoản cục bộ. Nguyên nhân là ngành ngân hàng đã bơm khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, khiến tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động và đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) lên cao. Sự lệch pha này gây áp lực về thanh khoản trong hệ thống ngân hàng cho đến nay.

PGS, TS Võ Đình Trí từ Trường IPAG Business School Paris (Pháp) nhận định, hệ thống ngân hàng hiện đang gặp áp lực thanh khoản do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Tình trạng này vẫn diễn ra mặc dù ngày 30/7/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ LDR trong hai năm.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Dragon Capital, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 1.500 tỷ USD nguồn vốn trong 5 năm tới. Đáng chú ý, khu vực tư nhân đóng vai trò nòng cốt khi cần tới khoảng 776 tỷ USD, một con số vượt qua cả quy mô GDP hiện tại của Việt Nam (500-510 tỷ USD) và tương đương với tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng hiện khoảng 750-760 tỷ USD. Chỉ riêng nhu cầu vốn từ bốn tập đoàn lớn đã lên tới khoảng 65 tỷ USD.

Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện sự chênh lệch giữa tốc độ huy động và cho vay, với khoảng cách tăng dần từ mức 34 tỷ USD vào cuối năm 2024 lên khoảng 68 tỷ USD vào đầu năm 2026 và hiện tiệm cận mốc 90 tỷ USD. Nguồn cung tiền gửi ngân hàng khó lòng gánh vác toàn bộ lượng cầu lớn này.

Tính toán từ Dragon Capital chỉ ra rằng, tín dụng ngân hàng truyền thống nhiều khả năng chỉ đáp ứng được khoảng 25-30% nhu cầu vốn doanh nghiệp trong nửa thập kỷ tới. Các dòng vốn ngoại như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đóng góp thêm khoảng 15-20%.

Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức 146%. Mức này chưa đến mức báo động, vẫn thấp hơn Malaysia, Thái Lan nhưng cao hơn một số quốc gia phát triển như Mỹ, Đức. “Nếu tín dụng tiếp tục tăng 15-16%/năm trong 5 năm tới, tỷ lệ này sẽ vượt qua Thái Lan, Singapore và tiệm cận Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, biến Việt Nam thành một trong những nước có tỷ lệ cao nhất châu Á. Vì vậy, Việt Nam chỉ còn khoảng 3-5 năm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng trước khi chạm ngưỡng”, ông Lê Anh Tuấn nói.

Khơi thông dòng vốn huy động mới

Theo đánh giá của các chuyên gia, giới hạn của hệ thống ngân hàng là khả năng huy động vốn và chịu đựng rủi ro, chứ không phải quy mô tín dụng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, cuộc đua lãi suất sẽ bùng nổ, chi phí vốn toàn nền kinh tế sẽ tăng cao. Do đó, việc phát triển đa dạng thị trường vốn như: Trái phiếu, cổ phiếu là giải pháp cấp bách giảm tải cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm nguồn vốn bền vững.

TS Võ Đình Trí đánh giá kinh nghiệm từ các nền kinh tế phát triển cho thấy, thị trường vốn sẽ giúp giảm sự phụ thuộc quá mức của doanh nghiệp vào tín dụng ngân hàng. Cụ thể, thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò cung ứng nguồn vốn dài hạn, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch tài chính mà không gây áp lực lên bảng cân đối của ngân hàng. Việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, nâng cao tính minh bạch và phát triển đồng bộ cả hai kênh trái phiếu lẫn cổ phiếu là yêu cầu bắt buộc để kiến tạo một cấu trúc tài chính đa tầng, vững chắc và bền vững cho nền kinh tế trong dài hạn.

PGS, TS Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, dù giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hệ thống ngân hàng về bản chất vẫn là trung gian tín dụng hoạt động dựa trên nguồn tiền gửi, trong khi các dự án hạ tầng và công trình trọng điểm lại yêu cầu nguồn vốn có kỳ hạn dài. Việc tiếp tục sử dụng vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay dài hạn sẽ khiến rủi ro kỳ hạn và rủi ro thanh khoản ngày càng tích tụ trên bảng cân đối của các ngân hàng.

Vì vậy, cấu trúc nguồn vốn cho nền kinh tế cần được chuyển đổi theo hướng đa tầng. Vốn ngắn hạn cần có dòng tiền trả nợ rõ ràng. Phần vốn dài hạn phải được chia sẻ qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án, các quỹ đầu tư hạ tầng...

Theo ông Lê Anh Tuấn, khi đầu tư vào doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần, nhà đầu tư đang rót vốn chủ sở hữu vào doanh nghiệp. Lúc này, người sở hữu cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông và là chủ sở hữu một phần của doanh nghiệp.

Vốn cổ phần là nguồn vốn có kỳ hạn dài nhất khi không tạo áp lực hoàn trả dòng tiền hàng năm cho cổ đông. Trong khi đó, trái phiếu lại sở hữu thời hạn xác định, đòi hỏi mỗi đợt phát hành phải có mục đích sử dụng vốn và kỳ hạn tương ứng với quy mô cũng như tiến độ của dự án.

“Nhận thức rõ bản chất này, các cơ quan quản lý hiện đã đặt ra những mục tiêu phát triển rất cụ thể khi đưa quy mô thị trường chứng khoán từ mức 60-70% GDP hiện nay lên khoảng 120% GDP, đồng thời mở rộng thị trường trái phiếu doanh nghiệp từ 15% lên khoảng 40% GDP”, ông Lê Anh Tuấn đánh giá.

Ở góc độ khác, ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ VinaCarbon gợi ý, nghĩa vụ môi trường sẽ trở thành cơ hội huy động vốn khi doanh nghiệp biến các yêu cầu xanh thành tài sản có thể đo lường, kiểm chứng và tạo giá trị kinh tế. Thay vì xem giảm phát thải, xử lý chất thải hay phát triển rừng là chi phí tuân thủ, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị tốt để biến chúng thành động lực tiếp cận vốn quốc tế.

Khả năng thu hút nguồn vốn này phụ thuộc vào năm yếu tố quyết định: Chất lượng và khả năng tiêu thụ của tín chỉ carbon; hiệu quả kinh tế tự thân của dự án ngay cả khi giá carbon giảm; sự rõ ràng của khung pháp lý về quyền sở hữu và chuyển nhượng; năng lực thực thi cùng hệ thống kiểm chứng của doanh nghiệp và khả năng mở rộng mô hình.

Có thể bạn quan tâm

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.