Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.
GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Bắt đúng bệnh, chọn đúng khâu đột phá

- Thưa GS, TS Phùng Hữu Phú, việc Trung ương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” được xem như một định hướng chiến lược trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Theo Giáo sư, đâu là lý do cốt lõi khiến cấp cơ sở trở thành khâu “đột phá của đột phá”?

- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cơ sở là gốc của mọi công việc. Cán bộ cơ sở là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với Nhân Dân”. Bác dạy rất sâu sắc rằng, đường lối của Đảng đúng đắn đến đâu, chính sách của Nhà nước hay đến mấy, nhưng nếu đội ngũ cán bộ cơ sở yếu kém, xa dân thì nghị quyết cũng chỉ nằm trên giấy.

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh tư duy quản trị hiện đại, tinh gọn bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong mô hình này, tổ chức Đảng cơ sở và cán bộ, đảng viên được xác định là “tế bào có ý nghĩa nền tảng” của cả hệ thống chính trị, với mục tiêu xuyên suốt là tăng cường gắn bó với Nhân dân, nâng cao hiệu quả “phục vụ” Nhân dân. Và cấp xã trở thành “đầu nguồn” trực tiếp tiếp xúc, giải quyết phần lớn các thủ tục hành chính, xung đột dân sự và bài toán phát triển kinh tế, xã hội cho người dân, doanh nghiệp.

Nhìn lại kết quả bước đầu sau hơn một năm vận hành hệ thống chính trị tinh gọn, cho thấy việc phân cấp, phân quyền xuống cơ sở là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, áp lực dồn xuống cơ sở là rất lớn. Nếu không lấy cán bộ cơ sở làm khâu đột phá, không nâng tầm năng lực và giải phóng tư duy cho họ, thì cơ sở sẽ trở thành “điểm nghẽn” của mọi dòng chảy đổi mới. Chọn “Năm cán bộ cơ sở 2026” chính là sự bắt đúng bệnh, chọn đúng khâu để chuyển hóa tức thì các nghị quyết thành hành động thực tiễn.

- Một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra cho năm 2026 là chuyển đổi mạnh mẽ phong cách làm việc từ “mệnh lệnh hành chính” sang “phục vụ Nhân dân”. Bác Hồ từng nói về chữ “Dân” và tinh thần công bộc rất sâu sắc. Vận dụng tư tưởng của Bác vào thực tiễn hiện nay cần được hiểu và hành động thế nào, thưa Giáo sư?

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ cơ sở gói gọn trong hai từ: Yêu dân và Vì dân! Bác dạy cán bộ phải là “người đày tớ thật trung thành của Nhân dân”, việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh.

Nhiều năm qua, tâm lý “quan cách mạng”, dùng mệnh lệnh hành chính, coi công việc là ban phát cho dân vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ cấp xã. Khi chuyển sang nền hành chính phục vụ và tư duy quản trị hiện đại, cán bộ cơ sở không thể ngồi ở trụ sở chờ dân đến “xin - cho”, mà phải “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, chủ động đối thoại và lắng nghe ý nguyện của Nhân dân.

Chuyển từ “mệnh lệnh” sang “phục vụ” không phải là lời nói xã giao. Đó là sự thay đổi bản chất về thái độ: Thứ nhất, lắng nghe với sự cầu thị: Giải quyết vụ việc không chỉ dựa trên sổ sách, điều luật khô khan mà phải hiểu cái lý, cái tình và tâm tư thật sự của người dân. Thứ hai, lấy sự hài lòng của dân làm thước đo: Mức độ hài lòng của Nhân dân và kết quả công việc thực tế phải là chỉ số cao nhất để đánh giá cán bộ, chứ không phải là những bản báo cáo tròn trịa. Nơi nào người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp xã thật sự yêu dân, coi việc của dân như việc của nhà mình, thì nơi đó ít có khiếu kiện kéo dài, kinh tế địa phương phát triển, niềm tin của Nhân dân với Đảng được củng cố vững chắc.

1-2.jpg
Người dân được tiếp cận những thủ tục đã được số hoá tại Trung tâm hành chính công Hà Nội (chi nhánh số 1). Ảnh: Thành Đạt

- Thực tiễn quản lý ở các địa phương trong năm 2026, các chỉ tiêu về chuyển đổi số hay giải quyết tồn đọng đất đai đều là những “hòn đá ngáng đường” sự nghiệp chung. Giáo sư đánh giá thế nào về vai trò tiền phong của Bí thư, Chủ tịch cấp xã trong việc đứng mũi chịu sào, “đột phá việc khó”?

- Thực tiễn minh chứng “Cán bộ nào, phong trào ấy”! Ở đâu có Bí thư, Chủ tịch xã dám xông pha vào “điểm nóng”, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và Nhân dân, thì ở đó việc khó mấy cũng gỡ được.

Bí thư hay Chủ tịch xã không thể chỉ tròn vai “truyền đạt” chỉ thị từ cấp trên xuống. Năm 2026, đặt ra các chỉ tiêu rất cụ thể và áp lực lớn. Người đứng đầu phải là trung tâm hội tụ đoàn kết, là người “đứng mũi chịu sào” giải quyết vướng mắc, trực tiếp đối thoại, tìm gốc rễ vấn đề, minh bạch cơ chế để dân hiểu. Khi triển khai chuyển đổi số hay mô hình kinh tế mới, người đứng đầu phải làm trước, ứng dụng trước để làm gương cho cán bộ cấp dưới và Nhân dân làm theo.

Cơ chế trách nhiệm của người đứng đầu phải gắn liền với kết quả sản phẩm đầu ra. Không thể biện lý do “khó khăn khách quan” khi mà địa phương bên cạnh có cùng điều kiện lại làm tốt. Sự gương mẫu của người đứng đầu chính là mệnh lệnh không lời có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất.

Giải pháp căn cơ tạo nền tảng lâu dài

- Rào cản lớn hiện nay khiến không ít cán bộ cơ sở co cụm, né tránh, đùn đẩy công việc là tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm”. Làm thế nào để vận dụng hiệu quả Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị vào thực tế cấp xã, tạo “lá chắn” an toàn để cán bộ cơ sở yên tâm cống hiến, thưa Giáo sư?

- Đây là vấn đề mang tính quyết định đến sự thành bại của “Năm cán bộ cơ sở”. Chúng ta đòi hỏi cán bộ cơ sở phải năng động, sáng tạo, “dám nghĩ, dám làm”, nhưng nếu cơ chế pháp lý không rõ ràng, hệ thống kiểm tra, thanh tra còn chồng chéo thì cán bộ sẽ chọn giải pháp “an toàn là trên hết!”.

Vận dụng Kết luận 14-KL/TW vào cấp cơ sở cần được thể chế hóa bằng các quy định thực thi rất cụ thể, không nói chung chung: Theo đó, phân định rõ ràng giữa “sai sót vì lợi ích chung” và “vi phạm vì lợi ích nhóm”: Nếu cán bộ thí điểm mô hình mới, vì lợi ích cộng đồng, xuất phát từ động cơ trong sáng, công khai, minh bạch nhưng do thể chế chưa kịp cập nhật dẫn đến sai sót, thì phải được bảo vệ, miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Ngược lại, lợi dụng “sáng tạo” để vụ lợi thì phải xử lý nghiêm.

Cụ thể hóa quy trình đề xuất và phê duyệt dự án đổi mới: Cán bộ cơ sở khi có ý tưởng đột phá phải được cấp trên thẩm định, đồng ý chủ trương và đồng hành giám sát. Cấp trên không được “đùn” hết rủi ro cho cấp dưới. Cơ chế minh định an toàn: Khi một việc khó chưa có tiền lệ xuất hiện, cấp trên phải có trách nhiệm hướng dẫn, thậm chí “bảo lãnh” về mặt cơ chế để cấp dưới tự tin triển khai

Có một “lá chắn” thể chế minh bạch và nhân văn, chúng ta mới khơi thông được “nguồn tài nguyên lớn nhất” ở cơ sở: Đó là sự nhiệt huyết, trí tuệ và tinh thần dấn thân của đội ngũ cán bộ cơ sở”.

GS, TS Phùng Hữu Phú.

“Có một “lá chắn” thể chế minh bạch và nhân văn, chúng ta mới khơi thông được “nguồn tài nguyên lớn nhất” ở cơ sở: Đó là sự nhiệt huyết, trí tuệ và tinh thần dấn thân của đội ngũ cán bộ cơ sở”.

- Để những kết quả của “Năm cán bộ cơ sở 2026” không dừng lại ở một đợt thi đua ngắn hạn mà trở thành nền tảng bền vững trong công tác xây dựng Đảng, theo Giáo sư chúng ta cần thực hiện những giải pháp căn cơ nào?

- Muốn tạo chuyển biến bền vững, chúng ta phải làm đồng bộ 4 chữ: TUYỂN - ĐÀO - DÙNG - ĐÃI. Một là, chọn đúng cán bộ (TUYỂN): Cái gốc vẫn là chọn được người có tâm, có trí, đặc biệt là phải “yêu dân”. Đánh giá, tuyển chọn cán bộ cơ sở phải thoát khỏi tư duy bằng cấp thuần túy, chú trọng đến năng lực thực hành, uy tín trong cộng đồng và kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn. Hai là, đào tạo đúng trọng tâm (ĐÀO): Không đào tạo lý luận chung chung mà phải bồi dưỡng kỹ năng quản trị hiện đại, kỹ năng số, kỹ năng dân vận và pháp luật thực hành. Ba là, chuẩn hóa hệ thống đánh giá và đãi ngộ (DÙNG - ĐÃI): Xây dựng bộ chỉ số KPI chi tiết gắn với mức độ hài lòng của người dân để đánh giá cán bộ. Đồng thời, phải cải thiện thu nhập, chính sách nhà ở, điều kiện làm việc và lộ trình thăng tiến rõ ràng cho cán bộ cơ sở. Không thể đòi hỏi một cán bộ cơ sở gánh vác trách nhiệm nặng nề nhưng chính sách đãi ngộ lại quá eo hẹp. Bốn là, kiểm soát quyền lực gắn với phân cấp mạnh mẽ: Phân quyền triệt để cho cấp xã đi đôi với việc tăng cường giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và trực tiếp từ Nhân dân.

“Năm cán bộ cơ sở 2026” là bước khởi đầu cho một tư duy quản trị mới. Khi cấp cơ sở thật sự vững mạnh, đội ngũ cán bộ cơ sở thật sự “vừa hồng vừa chuyên”, yêu dân và vì dân, thì đó chính là gốc rễ bền vững nhất để củng cố niềm tin của Nhân dân, đưa đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

- Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Có thể bạn quan tâm

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?