Những phận người không hư cấu trong Đời như tiểu thuyết

"Đời như tiểu thuyết" của Trương Đức Minh Tứ không phải là cuốn sách để tìm một cốt truyện theo nghĩa thông thường. Ở đó là những con người cụ thể, những đời sống đã diễn ra, với đủ biến cố, chia ly, lựa chọn, day dứt, hy sinh và cả những cuộc kiếm tìm kéo dài đến tận cuối đời. 

Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.
Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.

Cái tên sách vì thế không còn là ẩn dụ, mà gần như là một nhận định: đời sống, khi được nhìn kỹ, đã mang sẵn cấu trúc của một cuốn tiểu thuyết.

Tác giả viết chân dung từ vốn sống của một người làm báo nhiều năm. Nhưng ông không dừng ở việc ghi chép tư liệu. Điều đáng chú ý là mỗi nhân vật, dù nổi tiếng hay bình dị, đều được đặt trong một không gian rộng hơn đời riêng của họ: chiến tranh, quê hương, thời cuộc, công lý, lòng biết ơn và những ràng buộc âm thầm của ký ức.

Nhờ vậy, câu chuyện cá nhân không tách rời bối cảnh, mà trở thành một phần của dòng chảy lịch sử. Ở những trang viết về Hoàng Thi Thơ, Tân Nhân và Châu La Việt, người đọc bắt gặp một câu chuyện có sức nặng đặc biệt. Đó là câu chuyện của một gia đình bị chia cắt, cũng là một vết cắt của lịch sử.

Một người cha và một người con bốn mươi năm mới gặp lại; một người mẹ đi qua chiến tranh, cô độc, nghèo khó nhưng vẫn giữ cho con một sợi dây nối với nguồn cội; một người con lớn lên trong thiếu vắng, từng nghĩ mình bị bỏ rơi, để rồi khi gặp lại cha chỉ xin một điều: hãy luôn đứng về phía nhân dân.

Chi tiết ấy đưa câu chuyện gia đình ra khỏi phạm vi xúc động riêng tư để chạm tới chiều sâu đạo đức của một thế hệ. Trong bối cảnh đất nước từng bị chia cắt, con người không chỉ đi tìm nhau bằng huyết thống, mà còn phải tự xác lập căn cước của mình bằng tình nghĩa, lý tưởng và lòng biết ơn.

Việc Châu La Việt không đổi họ, vẫn giữ họ của người cha nuôi Lê Khánh Cần, là một chi tiết nhỏ nhưng có sức khái quát lớn. Nó cho thấy con người không chỉ được sinh ra bởi máu mủ, mà còn được làm nên bởi sự cưu mang, giáo dưỡng và những ân tình không thể phụ.

Với ca sĩ Tân Nhân, Trương Đức Minh Tứ không chỉ viết về một giọng hát gắn với Xa khơi. Ông nhìn thấy phía sau giọng hát ấy là một đời người nhiều dâu bể: tuổi trẻ hoạt động cách mạng, những năm tháng văn công giữa chiến trường, nỗi nhớ quê hương trên sân khấu xa xứ và một đời riêng nhiều khúc quanh.

Ở đây, nghệ thuật không tách khỏi đời sống. Những câu hát, những giai điệu, những giọt nước mắt của người nghệ sĩ trở thành nơi ký ức trú lại. Có những nỗi đau không thể nói hết bằng lời, nhưng vẫn còn ở lại trong âm nhạc. Nếu mảng viết về văn nghệ sĩ và nhà báo tạo nên chiều sâu văn hóa và ký ức, thì những câu chuyện về người lính an ninh Ngô Xuân Hòa, người thầy giáo thương binh Hồ Roàng, hay người phụ nữ hơn ba mươi năm đi tìm công lý lại mở ra một lớp khác của cuốn sách: lớp đời sống bình thường, thô ráp, nhiều mất mát nhưng bền bỉ.

“Thêm một tình sử bên dòng Ô Lâu” không chỉ là chuyện tình của Ngô Xuân Hòa và Huỳnh Thị Thuận. Đó là một tình yêu đi qua chiến tranh, bí mật, chia xa, hy sinh và trở về. Tác giả kể bằng giọng chậm, tiết chế. Chính sự tiết chế này giữ cho câu chuyện không bị lãng mạn hóa, mà hiện lên như một phần phẩm chất của con người thời ấy: yêu sâu, sống lặng, chịu đựng nhiều và đặt nghĩa lớn lên trên hạnh phúc riêng.

Câu chuyện về thầy giáo Hồ Roàng lại cho thấy một phương diện khác: lòng trắc ẩn của người làm báo. Một người thầy dân tộc Vân Kiều, từng đầy sức trẻ và cống hiến, bỗng thành thương binh sau tai nạn chiến tranh; một căn nhà tranh bị cháy; một người vợ bệnh tật; những đứa con nheo nhóc. Những chi tiết này nếu kể không khéo dễ trở thành thương cảm đơn thuần. Nhưng tác giả đã giữ được phẩm giá của nhân vật. Ông không biến họ thành đối tượng để thương hại, mà đặt họ trong sự tôn trọng. Ở đó, báo chí hiện lên như một chiếc cầu nối giữa nỗi đau và sự sẻ chia xã hội.

Đặc biệt, câu chuyện người phụ nữ hơn ba mươi năm đi tìm công lý đưa cuốn sách tới một chiều kích gần với đời sống hiện tại. Không còn là ký ức chiến tranh, mà là những vấn đề pháp lý hậu chiến, là thân phận công dân trước những quyết định có thể làm đổi khác cả một đời người. Những trang viết này có hồ sơ, địa chỉ, mốc thời gian, giấy tờ, bản án.

Khi ấy, bút ký không chỉ kể chuyện mà còn chứng minh. Và người làm báo không chỉ ghi nhận nỗi oan, mà phải kiểm chứng, đối chiếu, lên tiếng bằng sự thật. Có thể nói, Đời như tiểu thuyết không hấp dẫn vì tác giả cố làm cho đời sống trở nên “văn chương”. Ngược lại, sức nặng của cuốn sách nằm ở chỗ ông tin vào chính đời sống.

Ông để chi tiết tự nói, để nhân vật hiện ra qua hành động, lời kể, lựa chọn và số phận. Cái “tôi” của tác giả có mặt, nhưng không lấn át. Đó là cái “tôi” của người từng gặp, từng nghe, từng đi, từng chứng kiến, biết xúc động nhưng cũng biết dừng lại. Đọc xong cuốn sách, điều còn lại không chỉ là vài câu chuyện riêng lẻ, mà là cảm giác về một thời đã đi qua với nhiều gương mặt khác nhau.

Có người nổi tiếng, có người vô danh; có người thuộc về nghệ thuật, có người thuộc về chiến trường, lớp học, tòa án, làng quê. Nhưng tất cả gặp nhau ở một điểm: họ đều mang trong đời mình một phần lịch sử. Vì thế, Đời như tiểu thuyết không phải là tiểu thuyết của hư cấu. Đó là “tiểu thuyết” của sự thật , của ký ức và của những phận người đã sống đến tận cùng hoàn cảnh của mình. Đời sống, khi được nhìn bằng con mắt tỉnh táo và nhân hậu, tự nó đã có sức lay động lớn hơn mọi sự sắp đặt.

(Đọc Đời như tiểu thuyết của tác giả Trương Đức Minh Tứ - NXB Thanh niên)

Có thể bạn quan tâm

Bà Phan Cẩm Tú (thứ 3 từ trái sang) tại buổi tọa đàm về bản quyền do Báo Nhân Dân tổ chức. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền tác giả: Nỗi niềm người làm điện ảnh

Là người có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền điện ảnh, bà Phan Cẩm Tú (Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, chuyên gia tư vấn, Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ) chia sẻ những nỗi niềm của những người làm sáng tạo trước thực trạng vi phạm bản quyền hiện nay.

Du khách tham quan nhà người Hà Nhì tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh: THANH DUNG)

Giữ gốc, nối nghề trong nhịp sống số

Trước nguồn nguyên vật liệu tự nhiên khan hiếm, đội ngũ thợ am hiểu kỹ thuật dựng nhà ngày càng thưa vắng, nhiều ngôi nhà truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã không còn giữ được hình thái ban đầu… 

Quần thể di tích Cố đô Huế, không gian di sản tiêu biểu trong hành trình “Hộ chiếu du lịch”. (Ảnh: Sở Du lịch thành phố Huế)

Đổi mới cách tiếp cận di sản

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản không chỉ là gìn giữ nguyên trạng, mà còn đòi hỏi những phương thức tiếp cận phù hợp với bối cảnh mới.

Đại diện lãnh đạo thành phố Hà Nội trao Bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho di tích Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn.

Hà Nội trao bằng xếp hạng cấp thành phố cho di tích văn hóa lịch sử làng La Xuyên, xã Cổ Đô

Nhân dân thôn La Xuyên, xã Cổ Đô, thành phố Hà Nội vừa tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn. Buổi lễ có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ Hà Nội.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại.