Ánh mắt vùng cao và những khoảng lặng trong tranh màu nước

Bộ tranh màu nước về các em nhỏ vùng cao của họa sĩ Trương Văn Ngọc mở ra những khoảng lặng phía sau những ánh mắt trong trẻo, thấp thoáng những nhọc nhằn sớm in dấu mà vẫn ánh lên niềm hy vọng về một tương lai đủ đầy, ấm áp.

Trích từ một tác phẩm của họa sĩ Trương Văn Ngọc.
Trích từ một tác phẩm của họa sĩ Trương Văn Ngọc.

Bộ tranh màu nước về các em nhỏ vùng cao của họa sĩ Trương Văn Ngọc có thể được tiếp cận như một thực hành thị giác mang tính nhân học và thẩm mỹ, trong đó hình ảnh chân dung đã trở thành phương tiện kiến tạo diễn ngôn về con người.

Loạt tác phẩm nổi bật này được hình thành cách đây khoảng 10 năm - hành trình đủ dài để nhìn lại như lớp ký ức thị giác, phản ánh đối tượng được vẽ và cả trạng thái tinh thần của người vẽ trong một giai đoạn nhất định của hành trình sáng tạo.

z7782321292103-c9d792a841fe94b5a09060cf8f3bd111.jpg
Chân dung trẻ em vùng cao là đề tài họa sĩ từng miệt mài theo đuổi.

Xuất thân từ miền núi, họa sĩ Trương Văn Ngọc mang theo trong mình những trải nghiệm sống mang tính bản địa với thiên nhiên, con người và điều kiện sinh tồn đan cài chặt chẽ.

Sớm rời quê để lập nghiệp và học tập tại Hà Nội không làm đứt gãy mối liên hệ ấy, mà ngược lại, tạo nên độ lùi cần thiết để ký ức được tái cấu trúc trong ý thức nghệ thuật. Độ lùi này cho phép họa sĩ nhìn lại tuổi thơ và các hình ảnh trở thành đối tượng của suy tư và biểu đạt.

z7782322962089-dd37e19a05181727941c3dab4900c12e.jpg
Chân dung cuộc sống hiện lên qua hình ảnh con người.

Trong cấu trúc biểu đạt của bộ tranh, khoảng lặng ắp đầy cảm xúc, thẩm mỹ. Nền tranh giản lược, khoảng trống thị giác, sự tiết chế chi tiết... tạo ra không gian mở, nơi ý nghĩa luôn trong trạng thái chờ được hoàn tất bởi người xem.

Trung tâm của không gian ấy là những ánh mắt - mô-típ thị giác được khai thác với cường độ cao. Những đôi mắt trong trẻo, đồng thời cũng mang dấu vết của trải nghiệm, những va chạm sớm với thực tại khắc nghiệt.

z7782322962010-a37e9b7bb0ff9d6cdeebaa58fcd9a7d8.jpg
Họa sĩ đã có nhiều thời gian quan sát và cảm nhận để sáng tạo tác phẩm.

Sự đan xen giữa trong trẻo và u uẩn tạo nên trạng thái "lưỡng trị". Bởi lẽ đó, người xem cảm nhận được cái đẹp không bị lý tưởng hóa mà được đặt trong quan hệ thực tế với đời sống.

Ở đây, có thể nhận thấy một nỗ lực tránh né khuynh hướng "mỹ học hóa nghèo khó". Thay vì nhấn mạnh vào sự thiếu thốn như yếu tố gây xúc động trực tiếp, họa sĩ lựa chọn cách biểu đạt tiết chế, để những dấu vết của nhọc nhằn chỉ hiện lên như những ám ảnh, đủ để người xem nhận diện và dấy lên cảm xúc thẳm sâu.

z7782322961801-e59541f71d5fee104a2003ab39897f2e.jpg
Một trong những tác phẩm được công chúng đặc biệt yêu thích.

Về phương diện chất liệu, màu nước với đặc tính loang, mỏng và khó kiểm soát tuyệt đối đã trở thành yếu tố đồng cấu với nội dung biểu đạt. Những lớp màu chồng lấp, không khép kín, tạo ra cảm giác mong manh và tạm thời như chính ký ức và cảm xúc mà tác phẩm gợi ra. Chất liệu, trong trường hợp này, trở thành ngôn ngữ mang tính ý niệm, góp phần định hình cách thức người xem tiếp cận hình ảnh.

Dù được sáng tác cách đây khoảng 10 năm, bộ tranh vẫn giữ được tính thời sự trong tiếp nhận. Điều này có thể lý giải bởi việc tác phẩm không gắn chặt với một bối cảnh cụ thể mà hướng tới những vấn đề mang tính phổ quát hơn như tuổi thơ, ký ức, sự thiếu thốn và khả năng hy vọng.

z7782322961922-6265fa34ab6f92356676a195b19dc8fd.jpg

Bên cạnh chân dung trẻ em, Trương Văn Ngọc cũng mở rộng mạch đề tài sang những gương mặt người cao tuổi, đặc biệt là các bà lão vùng cao. Ở người già, sự lặng lẽ dường như được kết tinh thành chiều sâu trải nghiệm. Nếp nhăn, làn da sạm, dáng vẻ khắc khổ không được khai thác như dấu hiệu của sự hao mòn mà trở thành bề mặt ký ức nơi thời gian in dấu hữu hình.

Trong các chân dung này, ánh mắt nghiêng về trạng thái trầm tĩnh, đi qua nhiều biến động để đạt tới cân bằng nội tại. Những gương mặt già nua tạo nên một cấu trúc thế hệ trong thực hành hội họa của họa sĩ, từ tuổi thơ đến tuổi già, từ khởi đầu đến tích tụ. Nhờ đó, thế giới nhân vật trong tranh hình thành một vòng đời khép kín để rồi mỗi ánh mắt, dù ở độ tuổi nào đều mang theo nét lặng lẽ riêng, phản chiếu những cấp độ khác nhau của thời gian, đời sống.

z7782323333759-f2aa4637ff27ba956c1bbfae2f98b460.jpg

Trương Văn Ngọc không diễn đạt niềm hy vọng trong tranh theo lối trực tiếp mà tồn tại như một khả thể - nguồn ánh sáng mong manh, bền bỉ trong ánh nhìn của nhân vật.

Ở bình diện tiếp nhận, ánh mắt trong tranh là đối tượng để quan sát, cũng là chủ thể nhìn lại, tạo nên mối quan hệ hai chiều giữa tác phẩm và người xem. Từ góc độ đó, bộ tranh của Trương Văn Ngọc có thể được xem như hình thức diễn ngôn thị giác, khi nghệ thuật phản ánh đời sống và tham gia vào quá trình nhận thức và kiến tạo ý nghĩa về con người.

z7782323344916-de46be9845e764a55c1940284c43036a.jpg
Vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo của tuổi thơ.

Những khoảng lặng, ánh mắt và chính độ lùi của ký ức đã cùng nhau tạo nên không gian thẩm mỹ giàu chiều sâu, trong đó người xem có thể tiếp nhận hình ảnh, đồng thời tham dự vào một hành trình suy tư về chính mình và thế giới chung quanh.

Ở phương diện cá tính sáng tạo, có thể thấy Trương Văn Ngọc không lựa chọn con đường "trình diễn kỹ thuật" hay tạo dựng phong cách bằng sự khác biệt bề mặt. Điều định hình bản sắc của anh nằm ở dạng kỷ luật nội tâm, vẽ ít hơn, nhưng giữ lại nhiều hơn.

z7782353847035-35172d6403fb6c5b6805fb0a7fb09aef.jpg
Phong cảnh vùng cao trong tranh Trương Văn Ngọc.

Trong nhiều tác phẩm, phần chưa được vẽ với những khoảng mờ, ranh giới chưa hoàn tất lại mang sức nặng thị giác tương đương, thậm chí lớn hơn phần hình ảnh đã xác định. Đây là biểu hiện của lối tư duy tạo hình nghiêng về "giảm trừ", nơi nghệ thuật không hẳn ở sự thêm vào mà là biết dừng lại.

Yếu tố đời sống cũng góp phần làm rõ hơn cấu trúc lặng lẽ ấy. Là một họa sĩ đồng thời đảm nhiệm vai trò giảng dạy và sáng tác, Trương Văn Ngọc luôn ở trong trạng thái cân bằng giữa áp lực và sáng tạo. Chính sự va chạm liên tục với đời sống thực tế qua những lo toan, trách nhiệm gia đình, tương tác xã hội đã được "lọc" qua một tầng trầm tĩnh; nhờ đó, tác phẩm giống như quá trình chưng cất cảm xúc.

z7782353869411-9726f7660cda92f4be4c6c916b0e5846.jpg
Thiên nhiên vừa khắc nghiệt vừa nên thơ.

Trong khi nhiều nghệ sĩ trẻ tìm kiếm sự khẳng định bằng việc mở rộng biên độ thể nghiệm, Trương Văn Ngọc chọn cách thu hẹp, đi sâu vào một vài mô-típ nhất định và kiên trì khai thác.

Ánh mắt trẻ em vùng cao bởi thế không phải là đề tài mang tính giai đoạn, mà trở thành nguồn cảm hứng xuyên suốt. Sự lặp lại này là một biến thể tinh vi, có sắc độ, độ mở của ánh nhìn và nhịp điệu hình khối đều có sự điều chỉnh.

z7782353926247-0610619300f24d5485b4c13f0d1a6933.jpg
Họa sĩ đề cao sự tỉ mỉ, tinh tế trong sáng tác.

Dấu ấn lặng lẽ trong ánh mắt ấy có thể được xem như một phản ứng thẩm mỹ trước nhịp sống hiện đại, khi hình ảnh thường bị tiêu thụ nhanh, mạnh và trực diện. Tranh của Trương Văn Ngọc đi theo hướng ngược lại, đó là làm chậm quá trình nhìn, kéo dài thời gian tiếp nhận và tạo ra khoảng "trì hoãn cảm xúc". Chính trong khoảng trì hoãn đó, người xem mới có cơ hội nhận ra những tầng nghĩa không hiển lộ.

z7782358045520-fb8cc430f9847e515d9ce5422365c134-2957.jpg
Họa sĩ Trương Văn Ngọc.

Tinh thần bền bỉ trong hành trình nghệ thuật của Trương Văn Ngọc lặng lẽ tích tụ qua thời gian qua quá trình lao động liên tục, có ý thức. Từ hơn một thập niên gắn bó với màu nước đến việc chuyển sang lụa - chất liệu đòi hỏi kỷ luật cao và sự kiên nhẫn gần như tuyệt đối, có thể thấy rõ lựa chọn nhất quán, thiên về chiều sâu.

Nỗ lực cân bằng trong đời sống tạo nên năng lượng bền bỉ, không bùng phát. Thay vì chạy theo sự thay đổi nhanh chóng, anh chọn cách đào sâu vào những gì đã gắn bó, chấp nhận sự lặp lại như một phương thức hoàn thiện. Chính trong sự lặp lại có ý thức ấy, phong cách dần được định hình bằng độ chín của trải nghiệm.

Có thể bạn quan tâm

Tại chương trình "Văn hóa Islam và kỹ năng tiếp khách Hồi giáo và Dịch vụ du lịch thân thiện với người Hồi giáo tại Huế”.

Huế từng bước xây dựng nền tảng để đón dòng khách du lịch Halal

Huế đang từng bước mở cánh cửa vào thị trường du lịch Halal trị giá hàng trăm tỷ USD bằng việc nghiên cứu và đào tạo về du lịch Halal, chuẩn bị những nền tảng quan trọng: kiến thức, kỹ năng và tư duy phục vụ của doanh nghiệp du lịch, nâng cao chất lượng điểm đến, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ thân thiện với người Hồi giáo.

Chiếu cói Vũ Hạ và khát vọng vươn xa

Chiếu cói Vũ Hạ và khát vọng vươn xa

Gắn bó với đời sống người Việt qua nhiều thế hệ, chiếc chiếu cói không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mà còn là ký ức của biết bao gia đình. Tại thôn Vũ Hạ, xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên, nghề làm chiếu vẫn được gìn giữ và từng bước đổi mới để thích ứng với thị trường và tìm cơ hội vươn ra thị trường quốc tế.

Hai nghệ nhân Tà Thía Panh và Tà Thía Ca (xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa) đang hòa tấu làn điệu độc đáo của đàn Chapi, như đang trò chuyện với núi rừng bằng thứ ngôn ngữ đã gắn bó với người Raglai qua bao thế hệ. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Đừng để hồn đàn Chapi mai một

Giữa đại ngàn xã Phước Hà (tỉnh Khánh Hòa), tiếng đàn Chapi vẫn lặng lẽ ngân lên dưới đôi bàn tay chai sần của những nghệ nhân già. Thanh âm mộc mạc ấy từng theo chân người Raglai qua những mùa rẫy, những đêm trăng, những lễ hội của buôn làng. Nhưng giữa nhịp sống hiện đại, tiếng đàn năm nào đang thưa vắng dần.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm trong chương trình khai mạc. (Ảnh: LINH BẢO)

Dấu ấn của kẻ sĩ Nam Bộ, nhà trí thức cách mạng Trần Bạch Đằng

Ngày 15/7, tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh, Câu lạc bộ Truyền thống Thành Đoàn, Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện số Nguyễn An Ninh-Chuyên đề Nam Bộ, Nhà xuất bản Trẻ phối hợp tổ chức Lễ khai mạc chuỗi sự kiện mang chủ đề “Trăm năm Trần Bạch Đằng-Một thế kỷ dấn thân của kẻ sĩ Nam Bộ”.

Ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao,

Gìn giữ tiếng Việt - Góp phần phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam trên trường quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc gìn giữ tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là nhu cầu của cộng đồng mà còn trở thành một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam.

Biểu diễn của ca sĩ Thái Song và Minh Loan trong chương trình nghệ thuật.

Đêm nghệ thuật giàu cảm xúc và ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Ngày mất của Tổng Bí thư Lê Duẩn

Kỷ niệm 40 năm Ngày mất của Tổng Bí thư Lê Duẩn, tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - quê hương của đồng chí, đông đảo các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân Quảng Trị đã tham dự một chương trình nghệ thuật chính luận, tưởng nhớ, tri ân vị lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và dân tộc.

Vòng Chung kết khu vực miền bắc quy tụ 1.243 thí sinh dự thi.

Hơn 1.200 thí sinh tranh tài tại Chung kết khu vực miền bắc Yoshine Music Festival toàn quốc 2026

Sau thành công của Chung kết khu vực miền trung (28 và 29/6/2026) diễn ra tại Đà Nẵng và Chung kết khu vực miền nam (3 đến 5/7/2026) diễn ra tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15/7, Yoshine Music Festival toàn quốc 2026 đã khai mạc Chung kết khu vực miền bắc (15 đến 22/7/2026) tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Đại sứ Pháp Olivier Brochet (áo dài đỏ) chúc mừng nhà thiết kế Hàn Phượng (cầm hoa) sau màn trình diễn áo dài.

Nhà thiết kế Hàn Phượng mang áo dài kể chuyện hữu nghị Việt-Pháp

Trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm Quốc khánh Cộng hòa Pháp do Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức tối 14/7 tại Hà Nội, bộ sưu tập áo dài "Ngọc Liên" của nhà thiết kế Hàn Phượng đã mang đến một điểm nhấn giao lưu văn hóa ấn tượng khi kết nối những nét đẹp đặc trưng của Việt Nam và Pháp qua ngôn ngữ thời trang và nghệ thuật.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Từ “mỏ vàng” di sản đến nguồn lực sáng tạo quốc gia

Thực tế, Việt Nam không thiếu những di sản đặc sắc kết tinh chiều sâu văn hóa, lịch sử và trí tuệ dân tộc, nhưng nếu chỉ dừng ở bảo tồn hay khai thác theo phương thức truyền thống, thì những giá trị từ di sản sẽ khó trở thành sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh tế sáng tạo.

"Hành trình di sản, gắn kết cội nguồn" đưa hơn 100 đại biểu trẻ về các tỉnh miền trung và hứa hẹn những kỷ niệm khó quên trên mảnh đất quê hương.

[Ảnh] Thanh niên kiều bào với hành trình tìm về nguồn cội và khám phá di sản

Tối 13/7, tại Hà Nội, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) đã tổ chức lễ khai mạc Trại hè Việt Nam 2026. Hơn 100 thanh niên kiều bào từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ mang tới thông điệp mạnh mẽ về lòng tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ xa xứ đối với quê hương trong kỷ nguyên mới.

Cảnh trong vở nhạc kịch “Lửa từ Đất”. (Ảnh: NHÀ HÁT TUỔI TRẺ)

Xây dựng hệ sinh thái nhạc kịch

Năm 1965, “Cô Sao”-vở nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam ra mắt. Đến nay, nhạc kịch nước ta đã trải qua hơn 60 năm với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm mang dấu ấn riêng. Dẫu vậy, để loại hình nghệ thuật này thật sự bứt phá, vẫn cần có một hệ sinh thái đồng bộ đủ khả năng đưa nhạc kịch phát triển chuyên nghiệp.

“Art Talk - Luận đàm cùng nghệ thuật” do Masterise Group giới thiệu vừa qua không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa công chúng và các tác phẩm của những tên tuổi tiêu biểu trong mỹ thuật Việt Nam.

“Art Talk” và hành trình nuôi dưỡng thấu cảm

Giữa những chuyển động không ngừng của cuộc sống hiện đại, nghệ thuật tạo ra những khoảng lặng để con người quan sát kỹ hơn, cảm nhận sâu hơn và kết nối sâu sắc hơn với chính mình cũng như thế giới chung quanh. Từ những trải nghiệm ấy, nghệ thuật trở thành một phần quan trọng trong hành trình hoàn thiện đời sống tinh thần.

Đại sứ Liên minh châu Âu tại Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của trí tưởng tượng và sự sáng tạo trong quá trình chuyển đổi xanh.

Khép lại hành trình gió, nước và mặt trời với đêm nhạc “The flow of evolution”

Tối 11/7 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam đã tổ chức chương trình nghệ thuật đa phương tiện “The flow of evolution”. Đây là sự kiện khép lại hành trình gần một năm của chiến dịch truyền thông và ngoại giao công chúng trọng điểm "Plug in to Evolution" (Nhấn kết nối-Bật thay đổi).

Phở Việt Nam là điểm nhấn nổi bật, thu hút đông đảo khách mời quốc tế đến thưởng thức. (Ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Phần Lan cung cấp)

Phở Việt Nam - Điểm nhấn nổi bật trong sự kiện giao lưu văn hóa và ẩm thực ASEAN tại Phần Lan

Sự đón nhận nồng nhiệt của bạn bè quốc tế đối với món ăn Việt Nam, đặc biệt là phở một lần nữa khẳng định sức hấp dẫn và giá trị của ẩm thực Việt Nam như một cầu nối văn hóa, góp phần tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam và lan tỏa bản sắc của Cộng đồng ASEAN tại Phần Lan.