Nghiên cứu giải bài toán xâm nhập mặn trên các lưu vực sông

Các nhà khoa học Viện Khoa học tài nguyên nước vừa hoàn thành nghiên cứu đánh giá nguồn nước mặt và dự báo xâm nhập mặn tại lưu vực sông Cauto (Cuba). Kết quả đột phá này cho thấy sức mạnh của khoa học dữ liệu và khẳng định dấu ấn của đội ngũ chuyên gia Việt Nam trong quản lý tài nguyên nước quốc tế.

Lưu vực sông Cauto (Cộng hòa Cuba). (Ảnh: TL)
Lưu vực sông Cauto (Cộng hòa Cuba). (Ảnh: TL)

Nâng cao sản xuất, cải thiện cấp nước cho người dân

Lưu vực sông Cauto – dòng sông dài nhất và có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh lương thực quốc gia của Cuba đang đối mặt với những thách thức chưa từng có do tác động kép của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội. Với chiều dài hơn 340 km, bắt nguồn từ dãy Sierra Maestra và chảy qua bốn tỉnh trọng điểm nông nghiệp là Granma, Holguin, Santiago de Cuba và Las Tunas, lưu vực này cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho khoảng 10% dân số cả nước. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, khu vực này liên tục trải qua các đợt hạn hán nghiêm trọng, đặc biệt trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm. Dù có lượng mưa trung bình lên tới 1.200 mm mỗi năm, hệ thống lưu trữ và phân phối nước xuống cấp khiến vùng này thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu nước trầm trọng.

Trong bối cảnh dữ liệu đo đạc khí tượng tại Cuba còn rất hạn chế, nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Trần Anh Phương và Thạc sĩ Trần Bảo Chung, Viện Khoa học tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã thực hiện “Nghiên cứu hiện trạng nguồn nước mặt và dự báo xâm nhập mặn tại lưu vực sông Cauto làm cơ sở đề xuất các giải pháp tăng cường sản xuất lúa gạo và cải thiện cấp nước cho người dân”, mã số NĐT.100.CU/21. Nhiệm vụ được triển khai trong khuôn khổ Nghị định thư hợp tác với Cuba. Kinh phí nhiệm vụ được tài trợ thông qua Văn phòng các Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ (nay là Quỹ Phát triển khoa học và và công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ).

Nhiệm vụ ứng dụng nguồn dữ liệu mưa vệ tinh CHIRPS với độ phân giải cao, kết hợp hiệu chỉnh bằng số liệu từ các trạm đo tại chỗ, để phân tích đặc điểm hạn hán trong không gian và thời gian trên toàn lưu vực. Bằng cách tính toán chỉ số hạn hán (SPI) ở ba tháng thời gian 3, 6 và 9 tháng trong giai đoạn 1981–2023, nhóm nghiên cứu đã xác định rõ chu kỳ, cường độ và phạm vi ảnh hưởng của các đợt hạn.

Kết quả cho thấy tần suất hạn hán trung bình trong toàn vùng dao động từ 15 đến 17% tổng thời gian, trong đó các đợt hạn nghiêm trọng nhất xảy ra vào các năm 1988, 1992, 1998 và đặc biệt là năm 2004–2005 với chỉ số SPI xuống dưới -2, phản ánh điều kiện khô hạn cực đoan.

Điều đáng lưu ý là hạn hán không chỉ diễn ra thường xuyên mà còn có xu hướng gia tăng mức độ nghiêm trọng vào mùa khô. Phân tích thống kê bằng phương pháp Mann - Kendall cho thấy có dấu hiệu giảm dần của chỉ số SPI trong các tháng mùa khô, trong khi các tháng mùa mưa có xu hướng ẩm hơn - một minh chứng rõ rệt cho sự thay đổi của chế độ mưa dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.

Không chỉ dừng lại ở nhận diện các đợt hạn, nhóm nghiên cứu còn phân tích sâu sắc về sự khác biệt theo địa hình, trong đó các khu vực đồng bằng ở hạ lưu chịu hạn kéo dài và cường độ cao hơn đáng kể so với vùng đồi núi phía thượng nguồn.

Để có cái nhìn toàn diện hơn về hiện trạng tài nguyên nước, nhóm tác giả đã phát triển một mô hình tích hợp giữa SWAT (mô phỏng thủy văn) và WEAP (phân bổ nguồn nước) nhằm đánh giá đầy đủ chu trình cung - cầu - cân bằng nước trên toàn lưu vực, cả trong hiện tại và theo kịch bản đến năm 2050.

Các kết quả mô phỏng cho thấy tổng nhu cầu sử dụng nước hiện tại của lưu vực sông Cauto khoảng 1.194 triệu mét khối mỗi năm, trong đó 96% dành cho nông nghiệp - chủ yếu là cây lúa và cây trồng cạn. Nhu cầu nước cho sinh hoạt và chăn nuôi chỉ chiếm lần lượt 3% và 1%. Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ 21, tổng nhu cầu nước được dự báo tăng lên 1.394 triệu mét khối mỗi năm (tăng 16,6%), do diện tích canh tác mở rộng theo định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp, trong khi dân số có xu hướng giảm nhẹ.

anh-2-lien-7482.jpg
Đoàn công tác của Cuba do ông Javier Toledo Tapanes, Phó Chủ tịch Cơ quan Tài nguyên nước Cuba đến thăm và làm việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Ở chiều ngược lại, nguồn cung nước không những không tăng mà còn giảm nhẹ (khoảng 2,5%) do hiện tượng bốc hơi mạnh hơn, đặc biệt trong mùa mưa - hệ quả tất yếu của xu thế nhiệt độ tăng. Kết quả là tình trạng mất cân bằng nước ngày càng nghiêm trọng, với tổng lượng thiếu hụt tăng từ 172 triệu mét khối trong hiện tại lên tới 262 triệu mét khối vào năm 2050, tương đương mức tăng hơn 52%. Các vùng có nguy cơ thiếu nước cao nhất là tiểu lưu vực SB3 và SB12 thuộc vùng Bayamo - nơi tập trung sản xuất lúa gạo với nhu cầu nước rất lớn.

Sử dụng dữ liệu vệ tinh hiệu chỉnh, thay thế mạng lưới đo đạc thưa thớt

Trên cơ sở các kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất loạt giải pháp có tính ứng dụng cao cho quản lý tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cuba. Trước hết, cần tiếp tục mở rộng việc sử dụng các mô hình tích hợp như SWAT–WEAP kết hợp dữ liệu vệ tinh CHIRPS, IMERG, ERA5… để xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định cho các cơ quan quản lý. Hệ thống này có thể giúp dự báo sớm hạn hán, tối ưu hóa phân bổ nước và điều chỉnh kế hoạch mùa vụ phù hợp với khả năng cung ứng thực tế theo thời gian thực. Bên cạnh đó, việc ưu tiên nước sinh hoạt và chăn nuôi trong phân bổ tài nguyên cần được đảm bảo trong mọi kịch bản. Cơ cấu cây trồng cũng cần được rà soát, hạn chế trồng các loại cây yêu cầu lượng nước lớn tại các vùng có khả năng thiếu hụt cao, đặc biệt là lúa tại các tiểu lưu vực SB3, SB12, SB4 thuộc vùng Bayamo.

Một trong những điểm nhấn đáng giá của nghiên cứu là việc sử dụng thành công dữ liệu vệ tinh hiệu chỉnh để thay thế mạng lưới đo đạc thưa thớt, từ đó mở ra hướng tiếp cận hiệu quả và chi phí thấp cho các quốc gia đang phát triển như Cuba. Những kết quả này không chỉ giúp quản lý tốt hơn tài nguyên nước của riêng Cuba, mà còn có thể áp dụng cho nhiều lưu vực sông khác trên thế giới đang đối mặt với thách thức tương tự.

Nghiên cứu mang tính đột phá này một lần nữa cho thấy tiềm năng lớn của khoa học dữ liệu và mô hình hóa trong giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu, đồng thời ghi nhận đóng góp nổi bật của các nhà khoa học Việt Nam trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Nghi thức khởi công Tòa nhà Công nghệ số 01, thuộc dự án Khu đô thị Công viên công nghệ số FPT tại phường Phú Diễn và phường Tây Tựu, thành phố Hà Nội. (Ảnh: BTC)

FPT khởi công Tòa nhà Công nghệ số đầu tiên trị giá hơn 1.311 tỷ đồng tại Hà Nội

Tòa nhà Công nghệ số 01 có tổng vốn đầu tư hơn 1.311 tỷ đồng, dự kiến đáp ứng nhu cầu làm việc của khoảng 6.000 chuyên gia công nghệ và lao động phụ trợ. Đây là bước triển khai cụ thể dự án Khu đô thị Công viên công nghệ số FPT tại Hà Nội, hướng tới hình thành hệ sinh thái nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ.

Để có cơ sở xây dựng các mô hình ứng dụng UAV phù hợp từng vùng sản xuất, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã phối hợp một số nhà cung cấp tổ chức trình diễn thực tế phương tiện bay không người lái (UAV) tại Quảng trường 7/5, phường Điện Biên Phủ. (Ảnh: LÊ LAN)

Điện Biên hướng tới mục tiêu sản xuất sản phẩm công nghệ “Make in Điện Biên”

Dù hiện mới đang thử nghiệm các thiết bị bay không người lái tại vùng sản xuất nông nghiệp để thực hiện mô hình phát triển kinh tế tầm thấp nhưng Điện Biên vẫn đặt mục tiêu lớn hơn, đó chính là sản xuất thử nghiệm các dòng UAV chuyên dụng cho địa hình miền núi - hướng tới sản phẩm công nghệ “Make in Điện Biên”. 

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồ Hải (bìa trái) và Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lữ Quang Ngời (bìa phải) trao quà lưu niệm đến ông Ran DaGan, Chủ tịch Tập đoàn Dagan (Israel) và ông Hà Duy Bình, Chủ tịch Tập đoàn VsionGlobal. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Cà Mau đón làn sóng đầu tư nông nghiệp công nghệ cao từ Israel

Sáng 15/10, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử cho biết, lãnh đạo tỉnh vừa có buổi tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Tập đoàn Dagan (Israel) đến trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao tại Cà Mau.

Giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: HÀ LINH)

Xây dựng xã hội số lấy người dân làm trung tâm

Phát triển công dân số gắn với quyền, trách nhiệm, kỹ năng và những lợi ích thực tế người dân nhận được khi sử dụng dịch vụ số. Nhân Ngày Công dân số Việt Nam, các ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, nhà quản lý và luật sư đề cập những kiến nghị để môi trường số thuận tiện, an toàn và phục vụ người dân tốt hơn.

Lực lượng công an xã Kiên Mộc (Lạng Sơn) hướng dẫn người dân sử dụng VNeID an toàn, hiệu quả. (Ảnh: KHÁNH AN)

Công dân số: Quyền lợi đi đôi với trách nhiệm

Nghị quyết số 66.22/2026/NQ-CP ngày 9/7/2026 của Chính phủ quy định lấy ngày 15/10 hằng năm là Ngày Công dân số Việt Nam. Việc phát triển công dân số cần hướng tới xây dựng công dân có năng lực thụ hưởng quyền lợi, thực hiện trách nhiệm và làm chủ công nghệ; hình thành môi trường số an toàn, văn minh, lấy con người làm trung tâm

Các đại biểu chụp ảnh kỷ niệm. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

COSTI-90: ASEAN thúc đẩy huy động nguồn lực, đưa hợp tác Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo vào thực tiễn

Tại Cuộc họp lần thứ 21, Hội đồng Tư vấn cho Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ASEAN (BAC) tập trung thảo luận cơ chế huy động nguồn lực, triển khai các sáng kiến ưu tiên và đo lường hiệu quả thực hiện Kế hoạch hành động ASEAN về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2035.

Thành phố Huế được vinh danh tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam năm 2026 với giải pháp chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp qua nền tảng Hue-S và IOC. (Ảnh: KHCN)

Huế được vinh danh tại hạng mục “Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc”

Tại Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam - Vietnam Digital Awards (VDA) 2026, thành phố Huế được vinh danh ở hạng mục “Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc”. Kết quả này ghi nhận nỗ lực ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Quang cảnh hội nghị đối thoại. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Cà Mau tiếp sức cho tuổi trẻ bứt phá, đổi mới sáng tạo

Ngày 14/10, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lữ Quang Ngời chủ trì Hội nghị đối thoại với thanh niên năm 2026, với chủ đề “Phát huy vai trò của thanh niên Cà Mau trong việc phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.

Một trong nhiều điểm mới của Nghị định số 224/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số. (Ảnh: TRÀ MY)

Đổi mới cơ chế, nâng hiệu quả chuyển đổi số

Giảm giấy tờ, hạn chế khai báo lại thông tin, từng bước cung cấp dịch vụ công chủ động là những thay đổi đáng chú ý của Nghị định số 224/2026/NĐ-CP. Cùng với các cơ chế mới về đầu tư và thử nghiệm công nghệ, những quy định này tạo cơ sở đổi mới cách tổ chức chuyển đổi số, phục vụ người dân và doanh nghiệp thuận tiện hơn.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại lễ kỷ niệm. (Ảnh: HÀ LINH)

Đổi mới hoạt động tiêu chuẩn hóa

Trước sự phát triển nhanh của công nghệ và yêu cầu chuyển đổi xanh, hoạt động tiêu chuẩn hóa cần chủ động đón đầu công nghệ, tham gia định hình tiêu chuẩn quốc tế và tạo giá trị thiết thực cho doanh nghiệp. Đây là yêu cầu được nhấn mạnh tại Lễ kỷ niệm Ngày Tiêu chuẩn Thế giới tổ chức chiều 14/10.

Công dân có trách nhiệm chủ động phối hợp cung cấp, cập nhật và tích hợp thông tin cá nhân vào tài khoản định danh điện tử. (Ảnh: HÀ LINH)

Miễn, giảm nhiều khoản phí, lệ phí cho công dân số

Công dân có tài khoản định danh điện tử mức độ 2, tích hợp đủ thông tin, giấy tờ và đáp ứng các điều kiện theo quy định sẽ được miễn, giảm nhiều khoản phí, lệ phí khi thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi tri thức chuyên ngành.

Đổi mới sáng tạo trong khoa học xã hội và nhân văn

Trong kỷ nguyên công nghệ, với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, các nghiên cứu nếu chỉ dừng ở việc mô tả hiện tượng, tổng hợp tài liệu, lặp lại những khung lý thuyết quen thuộc ít có khả năng tác động vào đời sống thì khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn sẽ ngày càng lớn. 

Khu trưng bày các sản phẩm chuyển đổi số của thành phố Hà Nội tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (xã Đông Anh, Hà Nội).

Bắt đầu từ những việc người dân cần

Từ phản ánh về vệ sinh môi trường, tra cứu nguồn gốc bữa ăn học đường đến thực hiện thủ tục hành chính, nhiều địa phương đang ứng dụng công nghệ để giải quyết những việc người dân cần. Hiệu quả của các mô hình gắn với quy trình thuận tiện, trách nhiệm xử lý rõ ràng và sự hỗ trợ để người dân sử dụng được dịch vụ số.