Khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả vận hành công trình
Theo ông Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật biển, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ giám sát, dự báo chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi trọng điểm khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Từ nền tảng quan trắc thực địa, phân tích phòng thí nghiệm đến ứng dụng mô hình hiện đại, các bản tin chất lượng nước được cung cấp kịp thời đã hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành, vận hành công trình.
Từ năm 2014 đến nay, mạng lưới giám sát chất lượng nước đã được mở rộng tại các hệ thống lớn như: hồ Dầu Tiếng, Cái Lớn-Cái Bé, Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên.
Các thông số quan trọng như độ mặn, pH, DO, cùng các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh được theo dõi định kỳ, kết hợp với dự báo bằng mô hình MIKE 11.
“Các dữ liệu quan trắc và dự báo giúp cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, lựa chọn thời điểm lấy nước hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh xâm nhập mặn diễn biến phức tạp”, ông Phạm Văn Tùng cho biết.
Thực tế vận hành tại hồ Dầu Tiếng, một trong những công trình thủy lợi lớn nhất cả nước cho thấy rõ vai trò của khoa học trong điều hành.
Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Chi nhánh trạm đầu mối Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, từ đầu năm 2026 đến nay, đơn vị đã điều tiết khoảng 500 triệu m³ nước qua các cống lấy nước, đồng thời duy trì dòng chảy sau đập với lưu lượng 30 đến 36m³/giây để đẩy mặn cho hạ du sông Sài Gòn, hỗ trợ cấp nước cho Nhà máy nước Tân Hiệp và khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông.
“Việc điều tiết nước được tính toán chặt chẽ, vừa bảo đảm cấp nước sản xuất, sinh hoạt, vừa cải thiện dòng chảy môi trường và hạn chế xâm nhập mặn”, ông Mạnh cho biết.
Chất lượng nước cải thiện nhưng áp lực vẫn hiện hữu
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi có xu hướng cải thiện trong những năm gần đây. Tại hồ Dầu Tiếng, nước cơ bản đáp ứng quy chuẩn phục vụ sinh hoạt và sản xuất sau xử lý. Tuy nhiên, ô nhiễm cục bộ vẫn xuất hiện ở một số khu vực do tác động từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt.
Tương tự, tại công trình thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng đến sớm, sâu và kéo dài hơn, trong khi một số vị trí vẫn ghi nhận ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vượt ngưỡng. Các hệ thống Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên dù có cải thiện nhưng vẫn tồn tại “điểm nóng” ô nhiễm.
Ở góc độ quản lý vận hành vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ông Lê Tự Do, Phó Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay là sự biến động khó lường của nguồn nước và xâm nhập mặn. “Các hệ thống công trình phải vận hành linh hoạt theo diễn biến thực tế, kết hợp chặt chẽ với thông tin dự báo để vừa bảo đảm sản xuất, vừa giảm thiểu rủi ro cho người dân”, ông nói.
Tăng cường giải pháp kỹ thuật và liên kết vùng
Để kiểm soát chất lượng nước và ứng phó hiệu quả với xâm nhập mặn, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật. Trong đó, việc tăng cường quan trắc tự động tại các điểm lấy nước trọng yếu sẽ giúp cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm và mặn xâm nhập.
Bên cạnh đó, kiểm soát nguồn thải từ nông nghiệp và công nghiệp, hướng dẫn người dân sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý là những giải pháp căn cơ nhằm giảm áp lực lên môi trường nước.
Đối với hồ Dầu Tiếng, cần chú trọng kiểm soát nguồn thải thượng lưu, quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản và quy hoạch lại vùng bán ngập. Trong khi đó, tại Tứ giác Long Xuyên, việc nạo vét, khơi thông dòng chảy và vận hành hợp lý các cống ven biển sẽ góp phần nâng cao khả năng tự làm sạch của hệ thống.
Từ thực tiễn vận hành, ông Nguyễn Hữu Mạnh cũng khuyến nghị ngành nông nghiệp và người dân cần chủ động trữ nước, sử dụng tiết kiệm và theo dõi sát các thông báo điều tiết từ hồ. Việc chuyển đổi cây trồng phù hợp, áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm cũng là hướng đi cần thiết để thích ứng với điều kiện nguồn nước ngày càng biến động.
Đặc biệt, theo ông Phạm Văn Tùng, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng theo lưu vực sông, thay vì quản lý theo địa giới hành chính. Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đẩy mạnh chuyển đổi số và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan khoa học, đơn vị quản lý và địa phương.
Thực tiễn từ các hệ thống thủy lợi phía nam cho thấy, bảo đảm an ninh nguồn nước là bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công trình, khoa học và quản lý. Trong đó, vai trò của các cơ quan nghiên cứu, đơn vị vận hành và chính quyền địa phương ngày càng được khẳng định, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay.