Bảo đảm an ninh nguồn nước, từ khoa học đến thực tiễn quản lý

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết và lâu dài. Thực tiễn tại hệ thống thủy lợi phía nam cho thấy, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát, dự báo chất lượng nước không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn góp phần ứng phó xâm nhập mặn, hướng tới phát triển bền vững.

Hồ Dầu Tiếng - công trình thủy lợi trọng điểm quốc gia, giữ vai trò bảo đảm an ninh nguồn nước.
Hồ Dầu Tiếng - công trình thủy lợi trọng điểm quốc gia, giữ vai trò bảo đảm an ninh nguồn nước.

Khoa học công nghệ nâng cao hiệu quả vận hành công trình

Theo ông Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật biển, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ giám sát, dự báo chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi trọng điểm khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Từ nền tảng quan trắc thực địa, phân tích phòng thí nghiệm đến ứng dụng mô hình hiện đại, các bản tin chất lượng nước được cung cấp kịp thời đã hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành, vận hành công trình.

Từ năm 2014 đến nay, mạng lưới giám sát chất lượng nước đã được mở rộng tại các hệ thống lớn như: hồ Dầu Tiếng, Cái Lớn-Cái Bé, Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên.

Các thông số quan trọng như độ mặn, pH, DO, cùng các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh được theo dõi định kỳ, kết hợp với dự báo bằng mô hình MIKE 11.

dau-tieng-2.jpg
Cán bộ Viện Kỹ thuật biển lấy mẫu nước tại hồ Dầu Tiếng.

“Các dữ liệu quan trắc và dự báo giúp cơ quan quản lý chủ động điều tiết nguồn nước, lựa chọn thời điểm lấy nước hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh xâm nhập mặn diễn biến phức tạp”, ông Phạm Văn Tùng cho biết.

Thực tế vận hành tại hồ Dầu Tiếng, một trong những công trình thủy lợi lớn nhất cả nước cho thấy rõ vai trò của khoa học trong điều hành.

Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Chi nhánh trạm đầu mối Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, từ đầu năm 2026 đến nay, đơn vị đã điều tiết khoảng 500 triệu m³ nước qua các cống lấy nước, đồng thời duy trì dòng chảy sau đập với lưu lượng 30 đến 36m³/giây để đẩy mặn cho hạ du sông Sài Gòn, hỗ trợ cấp nước cho Nhà máy nước Tân Hiệp và khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông.

“Việc điều tiết nước được tính toán chặt chẽ, vừa bảo đảm cấp nước sản xuất, sinh hoạt, vừa cải thiện dòng chảy môi trường và hạn chế xâm nhập mặn”, ông Mạnh cho biết.

Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc chi nhánh trạm đầu mối Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam.

Chất lượng nước cải thiện nhưng áp lực vẫn hiện hữu

Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, chất lượng nước tại nhiều hệ thống thủy lợi có xu hướng cải thiện trong những năm gần đây. Tại hồ Dầu Tiếng, nước cơ bản đáp ứng quy chuẩn phục vụ sinh hoạt và sản xuất sau xử lý. Tuy nhiên, ô nhiễm cục bộ vẫn xuất hiện ở một số khu vực do tác động từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt.

Tương tự, tại công trình thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng đến sớm, sâu và kéo dài hơn, trong khi một số vị trí vẫn ghi nhận ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vượt ngưỡng. Các hệ thống Quản Lộ-Phụng Hiệp và Tứ giác Long Xuyên dù có cải thiện nhưng vẫn tồn tại “điểm nóng” ô nhiễm.

Ở góc độ quản lý vận hành vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ông Lê Tự Do, Phó Tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay là sự biến động khó lường của nguồn nước và xâm nhập mặn. “Các hệ thống công trình phải vận hành linh hoạt theo diễn biến thực tế, kết hợp chặt chẽ với thông tin dự báo để vừa bảo đảm sản xuất, vừa giảm thiểu rủi ro cho người dân”, ông nói.

z6691194817939-83e1fbe04251b0e3f7d7565e9d1a7064-4566.jpg
Công trình thủy lợi Cái Lớn, tỉnh An Giang.

Tăng cường giải pháp kỹ thuật và liên kết vùng

Để kiểm soát chất lượng nước và ứng phó hiệu quả với xâm nhập mặn, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật. Trong đó, việc tăng cường quan trắc tự động tại các điểm lấy nước trọng yếu sẽ giúp cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm và mặn xâm nhập.

Bên cạnh đó, kiểm soát nguồn thải từ nông nghiệp và công nghiệp, hướng dẫn người dân sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý là những giải pháp căn cơ nhằm giảm áp lực lên môi trường nước.

Đối với hồ Dầu Tiếng, cần chú trọng kiểm soát nguồn thải thượng lưu, quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản và quy hoạch lại vùng bán ngập. Trong khi đó, tại Tứ giác Long Xuyên, việc nạo vét, khơi thông dòng chảy và vận hành hợp lý các cống ven biển sẽ góp phần nâng cao khả năng tự làm sạch của hệ thống.

Ông Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật biển, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.

Từ thực tiễn vận hành, ông Nguyễn Hữu Mạnh cũng khuyến nghị ngành nông nghiệp và người dân cần chủ động trữ nước, sử dụng tiết kiệm và theo dõi sát các thông báo điều tiết từ hồ. Việc chuyển đổi cây trồng phù hợp, áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm cũng là hướng đi cần thiết để thích ứng với điều kiện nguồn nước ngày càng biến động.

Đặc biệt, theo ông Phạm Văn Tùng, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng theo lưu vực sông, thay vì quản lý theo địa giới hành chính. Cùng với đó là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, đẩy mạnh chuyển đổi số và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan khoa học, đơn vị quản lý và địa phương.

Thực tiễn từ các hệ thống thủy lợi phía nam cho thấy, bảo đảm an ninh nguồn nước là bài toán tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công trình, khoa học và quản lý. Trong đó, vai trò của các cơ quan nghiên cứu, đơn vị vận hành và chính quyền địa phương ngày càng được khẳng định, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững trong bối cảnh nhiều thách thức hiện nay.

Có thể bạn quan tâm

EU chính thức triển khai dự án IRIS². (Ảnh: TELECOM REVIEW EUROPE)

EU củng cố chủ quyền số

Việc Ủy ban châu Âu (EC) vừa chính thức ký thỏa thuận triển khai chòm sao vệ tinh IRIS² với liên danh SpaceRISE đánh dấu một cột mốc lịch sử đối với không gian số và địa chính trị của Liên minh châu Âu (EU). Dự án là bước đi quan trọng nhất của EU trong thập niên này nhằm thiết lập tự chủ chiến lược và bảo vệ chủ quyền số.

Bên trong Văn phòng phần cứng Google tại Đài Loan (Trung Quốc). (Ảnh: Google)

Trải nghiệm có trách nhiệm với những công nghệ “tỷ đô”

Tháng 8/2026 đánh dấu một cột mốc mang tính biểu tượng trong lịch sử công nghệ thông tin toàn cầu. Trí tuệ nhân tạo (AI) đã chính thức trở thành một phần thiết yếu của đời sống con người với những con số biết nói và những thách thức an ninh chưa từng có.

Phiên thảo luận “Giải pháp tăng cường bảo vệ người dùng trên không gian mạng”.

Cảnh báo về an ninh nhận thức với người dùng mạng xã hội

Thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó Cục trưởng Cục A05, Bộ Công an đề cập đến khái niệm bảo vệ "an ninh nhận thức", đồng thời cảnh báo nguy cơ người dùng bị các nền tảng xã hội "trói" trong vòng điều hướng thông tin của các thuật toán, từ đó tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi.

Tổ hợp robot logistics thông minh và camera giám sát lái xe ứng dụng AI đến từ Viettel Post. (Ảnh: Viettel cung cấp)

Viettel đứng số một thế giới tại Giải thưởng kinh doanh quốc tế danh giá IBA 2026

Vượt qua hàng nghìn tổ chức đến từ 78 quốc gia, vùng lãnh thổ, với 17 giải Vàng, 8 giải Bạc và 3 giải Đồng, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel là doanh nghiệp giành nhiều giải thưởng nhất tại International Business Awards 2026 (IBA 2026), trong đó riêng giải Vàng gần gấp đôi số lượng đơn vị xếp thứ hai.

Trung tướng Vũ Ngọc Thiềm, Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ phát biểu khai mạc hội thảo. (Ảnh: TRÀ MY)

AI4CRIS 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI an toàn trong mật mã và an toàn thông tin

Trí tuệ nhân tạo đang mở rộng khả năng phát hiện, cảnh báo và ứng phó nguy cơ an ninh mạng, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về dữ liệu, năng lực tính toán, nhân lực và quản trị an toàn. Đây là trọng tâm của Hội thảo khoa học quốc gia “Trí tuệ nhân tạo cho mật mã và an toàn thông tin” (AI4CRIS 2026) diễn ra ngày 14/8 tại Hà Nội.

Kỹ thuật viên VNPT khảo sát nhu cầu sử dụng Internet của từng gia đình và tư vấn giải pháp phù hợp. (Ảnh: VNPT)

Xóa những “điểm mù” trong ngôi nhà hiện đại

Một căn nhà có thể vẫn có Internet, có WiFi nhưng chưa chắc mọi không gian đều được kết nối và kiểm soát như gia chủ mong muốn. Có nơi WiFi yếu khi ở cuối hành lang, tín hiệu chập chờn ở tầng trên. Những bất tiện này thường không đủ lớn để người dùng lập tức thay đổi hệ thống, nhưng lại dễ xuất hiện đúng lúc cần kết nối nhất.

BiboWatch là sự kết hợp giữa đồng hồ thông minh đeo tay và SIM điện thoại tích hợp dữ liệu di động. (Ảnh: VNPT)

Làm sao để luôn biết con an toàn khi không ở bên?

Xã hội hiện đại tạo cho trẻ nhiều cơ hội học tập, vui chơi và khám phá, nhưng cũng đặt ra không ít mối quan tâm đối với cha mẹ. Khi con bắt đầu tự đến trường, tham gia các lớp học ngoại khóa hay vui chơi cùng bạn bè, điều phụ huynh mong muốn nhất là biết con đang ở đâu, an toàn hay không và có thể kết nối với con bất cứ lúc nào.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: ITPC)

Ba điểm nghẽn cản trở doanh nghiệp ứng dụng AI

Mặc dù làn sóng AI đang thúc đẩy cuộc đua đầu tư công nghệ mạnh mẽ nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế này thành kết quả thực chất. Nguyên nhân do vướng ba điểm nghẽn: dữ liệu phân mảnh trên nhiều hệ thống, thông tin thiếu chuẩn xác, sự mất kết nối giữa khâu phân tích và thực thi hành động.

Lễ ký kết giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long và MobiFone Vĩnh Long. (Ảnh: BÁ DŨNG)

Mặt trận truyền thông số ở Vĩnh Long

Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc trong công cuộc chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đưa công nghệ số phục vụ đời sống nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long đã chủ động tiên phong, đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại lễ ký kết. (Ảnh: FPT)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam chủ động tham gia chuỗi giá trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

FPT và Mila - Viện nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu thế giới vừa ký kết hợp tác nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng kỳ vọng hợp tác góp phần tạo giải pháp thiết thực, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và định hình quy chuẩn quản trị AI toàn cầu.

Đại diện Viện VPI và Beicip-Franlab Asia ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí. (Ảnh: VPI)

Tăng cường hợp tác nghiên cứu công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí

Ngày 13/8, tại Hà Nội, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) thuộc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Beicip Technology Solutions Sdn. Bhd. (Beicip-Franlab Asia) đã ký kết Biên bản ghi nhớ tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

PILA (Việt Nam) ký kết hợp tác chiến lược cùng TOTM Technologies (Singapore). (Ảnh: NGỌC ANH)

Thúc đẩy hạ tầng niềm tin số xuyên biên giới trong khu vực ASEAN

Trong tiến trình chuyển dịch sang môi trường số, việc xác thực danh tính, chứng từ và dữ liệu đã trở thành điều kiện tiên quyết nhằm thúc đẩy thương mại xuyên biên giới. Bên cạnh hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu, các giao dịch số đòi hỏi một cơ chế kiểm chứng độc lập, nhanh chóng và bảo đảm tính tin cậy giữa các bên.

Các đại diện hai bên Việt Nam-Nhật Bản ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác tại diễn đàn. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Đưa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào chiều sâu, kiến tạo các giá trị mới

Các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học và đại biểu tham dự diễn đàn đều bày tỏ tin tưởng, hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, từ kết nối sang hợp tác, từ hợp tác sang cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị mới.