Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng, trong đó Nghị quyết số 57-NQ/TW (ngày 22/12/2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định phát triển công nghệ chiến lược là trụ cột của tăng trưởng nhanh, bền vững. Định hướng này tiếp tục được thể chế hóa trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 và Luật Công nghệ cao năm 2025, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển các sản phẩm khoa học.
Bài 1: Khi chính sách mở đường
Hiện nay, cơ chế tài trợ được định hướng chuyển mạnh sang các quỹ phát triển khoa học và công nghệ nhằm tập trung nguồn lực, khắc phục tình trạng dàn trải, nâng cao hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Trên cơ sở đó, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) giữ vai trò then chốt, không chỉ là kênh phân bổ nguồn lực mà còn là công cụ dẫn dắt, định hướng nghiên cứu triển khai lĩnh vực công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển quốc gia.
Cần cơ chế huy động, phân bổ nguồn lực hiệu quả
Thời gian qua, Chính phủ đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách, từ việc xác định 11 nhóm công nghệ chiến lược, 35 sản phẩm ưu tiên đến ban hành Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai. Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thực hiện, trước mắt tập trung vào 6 sản phẩm công nghệ chiến lược gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn; trợ lý ảo; AI Camera, robot di động tự hành, 5G, blockchain và thiết bị bay không người lái.
Để các định hướng này đi vào thực tiễn, yêu cầu then chốt đặt ra là cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Các quỹ phát triển khoa học và công nghệ giữ vai trò thiết chế tài chính trung gian, trong đó Quỹ Nafosted được kỳ vọng trở thành “bà đỡ” góp phần thúc đẩy hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, thời gian qua việc xây dựng và triển khai danh mục công nghệ, sản phẩm chiến lược được thực hiện quyết liệt, đồng bộ trên phạm vi cả nước. Các bộ, ngành, địa phương chủ động ban hành kế hoạch hành động, xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đến năm 2030 và 2035, đồng thời từng bước cụ thể hóa thành các chương trình triển khai. Nguồn lực cho khoa học và công nghệ tiếp tục được tăng cường với quy mô đầu tư lớn, qua đó ghi nhận một số kết quả bước đầu như phát triển trợ lý ảo chuyên ngành, xây dựng bản đồ số vùng nguyên liệu và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản dựa trên công nghệ chuỗi khối (Blockchain)...
Thời gian qua việc xây dựng và triển khai danh mục công nghệ, sản phẩm chiến lược được thực hiện quyết liệt, đồng bộ trên phạm vi cả nước. Các bộ, ngành, địa phương chủ động ban hành kế hoạch hành động, xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đến năm 2030 và 2035, đồng thời từng bước cụ thể hóa thành các chương trình triển khai. Nguồn lực cho khoa học và công nghệ tiếp tục được tăng cường với quy mô đầu tư lớn, qua đó ghi nhận một số kết quả bước đầu như phát triển trợ lý ảo chuyên ngành, xây dựng bản đồ số vùng nguyên liệu và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản dựa trên công nghệ chuỗi khối (Blockchain)...
Hệ thống cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu bước đầu hình thành các trung tâm nghiên cứu hạt nhân trong những lĩnh vực trọng điểm như AI, bán dẫn, năng lượng mới. Nhiều doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ công nghệ lõi phát triển sản phẩm chiến lược như: nghiên cứu một số công nghệ nền tảng lượng tử; tỷ lệ nội địa hóa đạt trên 50% trong lĩnh vực AI Camera và giám sát thông minh; Viettel làm chủ khoảng 85% công nghệ lõi 5G; triển khai robot tự hành cho logistics và sản xuất; làm chủ khoảng 70% công nghệ thiết bị bay không người lái; từng bước làm chủ công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên…
Quỹ Nafosted đang khẳng định vai trò tài trợ trọng yếu, đồng hành cùng các tổ chức nghiên cứu và đội ngũ nhà khoa học. Giai đoạn 2015-2025, mỗi năm Quỹ tài trợ hơn 300 nhiệm vụ, hỗ trợ hơn 12 nghìn lượt nhà khoa học, góp phần duy trì các hướng nghiên cứu chuyên sâu, nhất là nghiên cứu cơ bản, đồng thời từng bước hình thành đội ngũ khoa học chất lượng cao. Đáng chú ý, khoảng 70% nhiệm vụ được triển khai tại các trường đại học, qua đó tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu và đào tạo, tạo nền tảng nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược trong dài hạn.
Khơi thông nguồn lực, tạo động lực bứt phá
Mặc dù đạt được một số kết quả nhưng ở giai đoạn khởi đầu, việc phát huy đầy đủ vai trò của các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nhất là quỹ quốc gia trên thực tế vẫn còn điểm nghẽn cần tháo gỡ, nhằm khơi thông nguồn lực và tạo động lực bứt phá cho phát triển các công nghệ chiến lược.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Nafosted, việc triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược hiện nay dù ở giai đoạn khởi động nhưng thách thức chủ yếu nằm ở cơ chế. Nhiều quy định còn mang tính khung, thiếu cụ thể, chưa đủ chi tiết để triển khai hiệu quả; một số chính sách chưa phù hợp với đặc thù từng nhóm đối tượng. Chẳng hạn, viện nghiên cứu, trường đại học cần cơ chế khoán chi linh hoạt, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến ưu đãi thuế, đất đai, tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Từ thực tiễn này, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng phân loại đối tượng, thiết kế chính sách linh hoạt, sát nhu cầu của viện, trường và doanh nghiệp, thay vì áp dụng một cơ chế chung.
Việc triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược hiện nay dù ở giai đoạn khởi động nhưng thách thức chủ yếu nằm ở cơ chế. Nhiều quy định còn mang tính khung, thiếu cụ thể, chưa đủ chi tiết để triển khai hiệu quả; một số chính sách chưa phù hợp với đặc thù từng nhóm đối tượng. Chẳng hạn, viện nghiên cứu, trường đại học cần cơ chế khoán chi linh hoạt, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến ưu đãi thuế, đất đai, tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Từ thực tiễn này, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng phân loại đối tượng, thiết kế chính sách linh hoạt, sát nhu cầu của viện, trường và doanh nghiệp, thay vì áp dụng một cơ chế chung.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ) cho rằng, việc triển khai các định hướng theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược vẫn ở giai đoạn đầu, cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ hiệu quả và tác động.
Bên cạnh đó, thực tiễn nghiên cứu cũng cho thấy các thách thức về nhu cầu trong nước với sản phẩm đặc thù còn hạn chế; nguồn lực sau nghiệm thu thiếu ổn định, thủ tục cấp vốn kéo dài gây gián đoạn; trong khi áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu ngày càng lớn. Điều này đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, bảo đảm nguồn lực và đồng hành xuyên suốt từ nghiên cứu đến thương mại hóa; hoàn thiện cơ chế của Quỹ, chấp nhận và quản lý rủi ro, sẽ “cởi trói” sáng tạo, thúc đẩy các hướng nghiên cứu đột phá.
Thực tế cho thấy, hiện nay vai trò của các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt quỹ quốc gia, trong tài trợ các dự án công nghệ chiến lược vẫn chưa được phát huy đầy đủ, mức độ lan tỏa còn hạn chế, nhất là trong khối doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc MK Vision, nhiều doanh nghiệp chưa biết đến quỹ hoặc vẫn cho rằng quỹ chủ yếu hỗ trợ nghiên cứu hàn lâm, chưa gắn với nhu cầu phát triển sản phẩm. Vì vậy, cần đẩy mạnh truyền thông về hoạt động của quỹ, nhất là các điểm đổi mới mang tính bước ngoặt trong Điều lệ mới, để cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiếp cận rõ hơn.
(Còn nữa)