Nền tảng quản lý, vận hành tối ưu lưới điện

Với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và độ tin cậy cung cấp điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không ngừng cải thiện nền tảng hạ tầng, ứng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại. Trong đó, việc làm chủ nhiều bộ khung công nghệ cốt lõi giúp quá trình quản lý và vận hành lưới điện ngày càng hiệu quả.

Kiểm tra thông số thiết bị điện tại trạm biến áp. (Ảnh Thành Đạt)
Kiểm tra thông số thiết bị điện tại trạm biến áp. (Ảnh Thành Đạt)

Đi đôi với sự phát triển về quy mô, EVN không ngừng phát triển công nghệ xây dựng các đường dây, đem lại hiệu quả lớn trong công tác vận hành. Đơn cử, giải pháp xây dựng nhiều mạch cùng hoặc khác cấp điện áp đã giúp tiết kiệm được nhiều hành lang tuyến như việc triển khai các Đường dây 220kV Thường Tín - Mai Động, Nho Quan - Ninh Bình, Đăk Nông - Bình Long, Vĩnh Tân - Sông Mây... Hay việc sử dụng cột Kema thi công linh hoạt, lắp ráp nhanh, không cần thi công móng do sử dụng cột chống cùng dây neo đã giúp khắc phục tạm thời các đường dây, cũng như giảm thời gian mất điện.

Công nghệ vật liệu đường dây truyền tải cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, như chuẩn hóa việc sử dụng dây dẫn, sơ đồ cột, phân pha, đường dây nhiều mạch, đa cấp điện áp, phụ kiện... Chúng ta đã sử dụng các loại vật liệu cách điện tiên tiến, như composite, xà cách điện, cách điện gốm... cho đường dây trên không; sử dụng các đường dây dẫn siêu nhiệt để nâng cao khả năng tải của dây dẫn đường dây trên không. Việc sử dụng dây dẫn hợp kim, dây dẫn nhôm lõi bằng sợi carbon để giảm độ võng, giảm kích thước cột được ứng dụng vào việc nâng cao khả năng tải tại các đường dây 220kV Thường Tín - Mai Động, Hòa Bình - Xuân Mai, Nho Quan - Ninh Bình, Phả Lại - Phố Nối, Phả Lại - Hải Dương, Thủ Đức - Hóc Môn - Bình Phước, Nhà Bè - Bình Chánh... Việt Nam cũng là nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á có hệ thống truyền tải điện đa dạng với những đường dây hỗn hợp, như đường dây trên không kết hợp với cáp ngầm, đường dây trên không kết hợp với cáp ngầm vượt biển (Phú Quốc, Lý Sơn).

Trong công tác quản lý giám sát của nhà máy điện, EVN tập trung đầu tư thiết bị đo lường điều khiển tiên tiến cho các nhà máy điện mới. Một trong những công nghệ nổi bật là triển khai áp dụng công nghệ bảo dưỡng tập trung độ tin cậy với công nghệ theo dõi trực tuyến trạng thái thiết bị, tối ưu hóa công tác điều phối và tiếp nhận than tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải trong bối cảnh tiêu thụ than ngày càng tăng và yêu cầu kiểm soát chặt chẽ chất lượng than đầu vào. Đây là giải pháp hiệu quả nhằm hiện đại hóa công tác quản lý chuỗi cung ứng than tại các trung tâm điện lực quy mô lớn.

Xuất phát từ yêu cầu quản lý lưới điện trên địa bàn rộng lớn và phức tạp, EVN đưa vào nhiều ứng dụng, quản lý lưới điện bằng công nghệ tiên tiến nhất, như công nghệ "không ảnh", tái tạo không gian 3D hoặc ứng dụng GIS (hệ thống thông tin địa lý). Các công nghệ thiết bị bay không người lái (UAV) và trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tích hợp nhằm thực hiện chuyển đổi số công tác quản lý vận hành. Mục tiêu chính là xây dựng hệ thống AI có khả năng tự động lập trình đường bay cho UAV với khả năng phân tích hình ảnh để phát hiện hư hỏng của thiết bị.

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ LiDAR giúp xây dựng mô hình 3D kỹ thuật số các đường dây truyền tải điện. Mô hình này cho phép giám sát và tự động cảnh báo vi phạm hành lang tuyến, lập kế hoạch bay tự động kiểm tra định kỳ và đo đạc các thông số kỹ thuật của đường dây, giúp tăng năng suất lao động, tăng cường độ chính xác và nâng cao an toàn trong công tác quản lý vận hành các đường dây truyền tải điện.

Với những công nghệ này, công tác quản lý lưới điện đã giúp định hình rõ ràng về không gian, địa hình, cao độ, qua đó, cho ra kết quả chính xác và đồng thời giúp cho bộ phận thiết kế lưới điện có thông tin cần thiết để lựa chọn phương án tối ưu. Khả năng tự động và linh hoạt của những công cụ này giúp công tác khảo sát tại những địa hình khó tiếp cận trở nên dễ dàng hơn nhiều so với phương án truyền thống trước đây.

Trong công tác quản lý vận hành lưới điện, EVN tích cực ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng điện năng và bảo đảm cấp điện an toàn, như hệ thống SCADA (giám sát điều khiển và thu thập dữ liệu), hệ thống định vị sự cố, ứng dụng vật liệu mới như dây siêu nhiệt, dây dẫn tổn thất thấp, v.v… Phần lớn các trạm biến áp 110kV thuộc lưới điện đều được thiết kế, cải tạo thành trạm biến áp không người trực, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.

Đơn cử tại Hà Nội, các thiết bị gắn tại trạm biến áp sẽ được gửi dữ liệu về dòng điện, điện áp, nhiệt độ, hiện tượng bất thường theo tần suất 30 lần/giờ, mỗi lần cách nhau hai phút. Nếu có dấu hiệu phóng điện hay quá tải, hệ thống lập tức cảnh báo tới trung tâm, giúp xử lý sớm, giảm, tránh lan rộng sự cố. Nhờ thiết bị cảm biến thông minh, các thông số kỹ thuật của lưới điện liên tục được thu thập, truyền về Trung tâm Điều độ Hệ thống điện thành phố Hà Nội, nơi những điều độ viên thực hiện giám sát và điều hành hệ thống 24/7.

Theo ông Nông Ngọc Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Điều độ Hệ thống điện thành phố Hà Nội, việc áp dụng SCADA mang lại hiệu quả thiết thực, từ giảm thời gian thao tác, vận hành, đóng, ngắt thiết bị, rút ngắn thời gian bảo trì bảo dưỡng, xử lý sự cố, cho đến tối ưu nhân lực, giảm chi phí và đặc biệt là nâng cao độ tin cậy cung cấp điện. Trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt, SCADA càng phát huy vai trò hỗ trợ bảo đảm thao tác, vận hành lưới điện từ xa, nhằm cung ứng điện liên tục và ổn định.

Những nỗ lực ứng dụng và làm chủ công nghệ cho thấy nỗ lực bền bỉ của EVN trên hành trình hiện đại hóa lưới điện. Từ nền tảng này, việc triển khai các trạm biến áp số, ứng dụng dữ liệu lớn và các giải pháp giám sát, dự báo thông minh cũng liên tục được đẩy mạnh, nhằm từng bước xây dựng hệ thống điện thông minh, linh hoạt và đáng tin cậy hơn, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân ■

Hiện nay, mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam ở mức 121 thế giới, nhưng quy mô nguồn điện đã đứng thứ 23 trên toàn cầu và đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á.

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.