Dữ liệu phía sau mã QR
Suốt hơn sáu thập kỷ phát triển, Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã trở thành một trong những thương hiệu phân bón lớn nhất cả nước. Mỗi năm, hàng triệu tấn sản phẩm được đưa ra thị trường phục vụ sản xuất nông nghiệp. Quy mô lớn đồng nghĩa doanh nghiệp thường xuyên đối mặt với tình trạng hàng giả, hàng nhái.
Theo ông Nguyễn Quốc An, Phó Tổng Giám đốc Công ty, hàng loạt giải pháp như thay đổi bao bì, điều chỉnh màu sắc nhận diện, bổ sung các dấu hiệu phân biệt sản phẩm chính hãng đều không mang lại hiệu quả dài hạn.
Từ năm 2021, đơn vị bắt đầu triển khai hệ thống tem thông minh tích hợp mã QR trên sản phẩm. Người tiêu dùng có thể dùng điện thoại để xác thực hàng chính hãng, tra cứu thông tin xuất xứ, hướng dẫn sử dụng và các chương trình chăm sóc khách hàng.
Ông An cho biết, phía sau mỗi mã QR là cả hệ thống dữ liệu được số hóa. Khi quét mã, bất kỳ ai cũng có thể truy xuất ngày sản xuất, ca sản xuất, dây chuyền sản xuất, lô hàng và lịch sử lưu thông sản phẩm.
Mã QR từng được xem là "lá chắn" chống hàng giả. Nhưng khi cả mã truy xuất cũng có thể bị sao chép, câu hỏi đặt ra không còn là dán tem gì lên sản phẩm mà là dữ liệu phía sau những con tem đó.
Theo ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương), một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là đồng nhất truy xuất nguồn gốc với việc gắn mã QR lên sản phẩm. “Truy xuất nguồn gốc không phải là dán một mã QR lên hàng hóa. Đằng sau mã đó phải là cả một hệ thống dữ liệu xuyên suốt từ nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất, vận chuyển, phân phối cho đến tay người tiêu dùng”, ông nhấn mạnh.
Hàng giả hiện nay đã bước sang một giai đoạn mới. Nhiều trường hợp còn sao chép cả mã truy xuất nguồn gốc của doanh nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng các hệ thống xác thực thông minh hơn, có khả năng nhận diện những bất thường trong quá trình quét mã và lưu thông hàng hóa. “Chính phủ cùng các bộ, ngành đang triển khai các nền tảng truy xuất nguồn gốc dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp kết nối dữ liệu thay vì phải đầu tư riêng lẻ toàn bộ hệ thống”, ông Linh cho biết.
Một trong những công cụ đang được kỳ vọng là hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia verigoods.vn do Bộ Công thương vận hành từ cuối năm 2025. Đến nay, hơn một triệu mã sản phẩm đã được xác thực trên hệ thống.
Dữ liệu số thay đổi cách thức quản lý thị trường
Theo lực lượng quản lý thị trường, công nghệ truy xuất giúp quá trình kiểm tra hàng hóa nhanh và chính xác hơn đáng kể so với phương pháp thủ công trước đây. Quan trọng hơn, dữ liệu số đang làm thay đổi cách thức quản lý thị trường. Khi mỗi sản phẩm được gắn mã định danh duy nhất, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể theo dõi hành trình lưu thông gần như theo thời gian thực, nhận diện các dấu hiệu bất thường như hàng hóa xuất hiện sai khu vực phân phối, sản lượng lưu thông không phù hợp hoặc nguy cơ hàng giả, hàng nhái. Dữ liệu truy xuất vì thế không chỉ hỗ trợ công tác kiểm tra mà còn giúp người tiêu dùng chủ động xác thực nguồn gốc hàng hóa trước khi mua.
Nếu như trước đây truy xuất nguồn gốc chủ yếu xuất phát từ nhu cầu quản lý thị trường trong nước thì hiện nay động lực còn đến từ yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu.
TS Hà Minh Hiệp, Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/7 đã hướng tới việc đáp ứng yêu cầu hội nhập và chuyển đổi số quốc gia.
Điểm đáng chú ý là luật mới chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị rủi ro dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu. Thay vì phân loại hàng hóa theo nhóm hành chính như trước đây, sản phẩm được chia thành ba mức độ rủi ro: thấp, trung bình và cao. “Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực quản lý vào các nhóm sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường”, ông Hiệp nói.
Một điểm mới khác là việc luật hóa Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI), kết nối các hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, đánh giá sự phù hợp, công nhận và kiểm tra chất lượng trên nền tảng dữ liệu số.
Đồng thời, hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm, hàng hóa cấp quốc gia cũng sẽ được hình thành nhằm phát hiện sớm và xử lý các nguy cơ rủi ro. Đặc biệt, luật mới khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nhãn điện tử, hộ chiếu số và truy xuất nguồn gốc trong quản lý chất lượng.
Từ năm 2027, Liên minh châu Âu sẽ yêu cầu nhiều nhóm sản phẩm như dệt may và giày dép phải có “hộ chiếu sản phẩm số”, cung cấp đầy đủ thông tin về nguyên liệu, quy trình sản xuất, tác động môi trường và vòng đời sản phẩm. Nhiều thị trường cũng đang siết chặt yêu cầu về tính minh bạch trong chuỗi cung ứng.
Theo TS Hà Minh Hiệp, đây là nền tảng để chuyển từ mô hình quản lý dựa trên giấy tờ sang quản trị dựa trên dữ liệu. Xu hướng này cũng phù hợp với những thay đổi đang diễn ra trên thế giới.
Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước tương lai không thể chỉ cạnh tranh bằng giá thành hoặc thương hiệu truyền thống. Muốn hàng hóa đi xa hơn, họ phải chứng minh được năng lực quản trị và khả năng minh bạch hóa thông tin.
Ông Phan Văn Tâm, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền cho biết, doanh nghiệp đang thử nghiệm công nghệ RFID (công nghệ cho phép tự động nhận dạng, theo dõi và lưu trữ thông tin của các đối tượng thông qua sóng vô tuyến ở khoảng cách gần) kết hợp blockchain để tự động hóa quá trình thu thập và cập nhật dữ liệu.
Với sản lượng hàng triệu bao phân bón mỗi năm, việc quản lý bằng thao tác thủ công không còn phù hợp. Hệ thống mới cho phép dữ liệu tự động cập nhật khi sản phẩm được kiểm tra tại đại lý hoặc địa bàn tiêu thụ. Doanh nghiệp có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và xử lý kịp thời.
Tuy nhiên, các chuyên gia đều nhấn mạnh công nghệ không phải yếu tố quyết định. Theo ông Trần Hữu Linh, công nghệ chỉ là công cụ, dữ liệu mới là nền tảng. Một hệ thống truy xuất nguồn gốc dù hiện đại đến đâu cũng không thể phát huy hiệu quả nếu dữ liệu đầu vào không đầy đủ. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và có khả năng kiểm chứng, sẽ trở thành công cụ quản trị mạnh mẽ.
Ông Nguyễn Quốc An cho rằng, đây là quá trình xây dựng niềm tin cho thị trường. “Khi mỗi sản phẩm có một danh tính số rõ ràng, mỗi doanh nghiệp có trách nhiệm với dữ liệu mình cung cấp và mỗi người tiêu dùng chủ động xác thực thông tin trước khi mua hàng, hàng giả và hàng nhái sẽ ngày càng mất đi đất sống”, ông An nói.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, minh bạch đang trở thành chuẩn mực cạnh tranh mới. Truy xuất nguồn gốc vì thế không còn là một khoản chi phí tuân thủ mà là khoản đầu tư cho uy tín, khả năng tiếp cận thị trường và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Xa hơn, đó còn là “lá chắn số” bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ thương hiệu Việt và góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch trong nền kinh tế số.