Nâng hạng thị trường chứng khoán

Với Việt Nam, quan điểm nâng hạng thị trường đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ trong Quyết định 242/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”. Đặc biệt hơn, tại Lễ kỷ niệm 20 năm hoạt động TTCK vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tiếp tục yêu cầu cơ quan quản lý sớm đưa TTCK Việt Nam thành thị trường mới nổi.

Các tiêu chí về định lượng hiện không còn là trở ngại cho việc nâng hạng của TTCK Việt Nam. Nguồn: HOSE
Các tiêu chí về định lượng hiện không còn là trở ngại cho việc nâng hạng của TTCK Việt Nam. Nguồn: HOSE

Hành trang nâng hạng 

Đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho biết, thời gian qua có một số tổ chức lớn về xếp hạng thị trường quan tâm đến TTCK Việt Nam, nhưng UBCKNN đặt mục tiêu TTCK Việt Nam phải được Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Financial Times Stock Exchange (FTSE) nâng hạng từ hạng thị trường cận biên (frontier market) lên hạng thị trường mới nổi (emerging market) vì đây là những tổ chức lớn nhất về xếp hạng thị trường chuyên cung cấp các chỉ số thị trường toàn cầu được các quỹ Exchange Traded Fund (ETF) sử dụng rộng rãi trên thế giới.

Để nâng hạng một thị trường từ cận biên lên mới nổi, TTCK Việt Nam phải đáp ứng hai tiêu chuẩn lớn của MSCI: Thứ nhất, về quy mô và thanh khoản của thị trường, là những yếu tố có thể lượng hóa và tính toán cụ thể, bao gồm tiêu chí số doanh nghiệp (DN) đạt chuẩn về quy mô DN, quy mô giao dịch cổ phiếu và thanh khoản. Thứ hai, về tiếp cận thị trường (là các tiêu chí định tính phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng cũng như chính MSCI, bao gồm năm nội dung như mở cửa thị trường với sở hữu nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài (room); mức độ thuận lợi cho dòng vốn vào - ra; hiệu quả của các khuôn khổ hoạt động; môi trường cạnh tranh và sự ổn định của cơ cấu, tổ chức).

Hiện nay, các tiêu chí về định lượng không còn là trở ngại cho việc nâng hạng của TTCK Việt Nam. Theo báo cáo, mức vốn hóa tính đến cuối quý III-2020 của thị trường đạt 4,3 triệu tỷ đồng, tăng gấp 3,15 lần trong vòng 5 năm qua, tương đương 71% GDP. Cơ cấu thị trường ngày càng hoàn thiện và đã phát triển trên ba mảng gồm thị trường cổ phiếu, trái phiếu và phái sinh. Các sản phẩm cũng đa dạng gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng tương lai, chứng quyền có bảo đảm và các bộ chỉ số đầu tư...

Dựa trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và đà tăng trưởng cao, nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, TTCK có thể đạt quy mô tương đương 100% GDP vào năm 2020 và 120% GDP vào năm 2025 theo định hướng của Chính phủ khi tiến trình cổ phần hóa các DN lớn được tích cực triển khai. Với thực trạng hiện tại và định hướng trong vài năm tới, quy mô TTCK Việt Nam sẽ không thua kém so với một số quốc gia nhóm dưới đang nằm trong danh sách các thị trường mới nổi bởi các tổ chức như MSCI và FTSE Russell. 

Tuy nhiên, điểm nghẽn trong vấn đề nâng hạng hiện nay khiến cho MSCI vẫn duy trì xếp hạng thị trường cận biên đối với TTCK Việt Nam trong đợt đánh giá phân loại thị trường hằng năm vào tháng 5 vừa qua là bởi chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí định tính như: độ mở của thị trường đối với NĐT nước ngoài còn hạn chế (thể hiện chủ yếu qua giới hạn sở hữu nước ngoài - room); các hạn chế trong công bố thông tin bằng tiếng Anh; việc thiếu thị trường giao dịch ngoại hối tại nước ngoài (offshore currency market) gây khó khăn trong việc chuyển đổi từ tiền “Vietnam Dong - VND” sang ngoại tệ khác; chưa thỏa mãn một số tiêu chí khác về giao dịch, thanh toán, chuyển nhượng chứng khoán, sản phẩm phái sinh. Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán VNDIRECT, đây đều là những tiêu chí khó, đòi hỏi phải có những thay đổi lớn, đồng bộ cả về quy định pháp lý lẫn hệ thống công nghệ, cấu trúc tổ chức và giao dịch ở quy mô toàn thị trường.

Lối mở cho thị trường

Cho đến nay, Việt Nam có nền tảng pháp lý mới đồng bộ giữa Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư và Luật DN đều có hiệu lực thi hành (từ ngày 1-1-2021). Những thay đổi trong các luật sẽ góp phần gỡ nút thắt về vấn đề room của NĐT nước ngoài. Tuy nhiên, theo phân tích của đại diện VNDIRECT, cho đến nay mới chỉ có gần 40 DN niêm yết đã nâng room lên 100% do thủ tục thực hiện còn tương đối phức tạp. Luật mới đã giải quyết nút thắt này bằng cách tự động áp dụng room 100% cho các DN đại chúng, trừ khi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc luật chuyên ngành có các quy định cụ thể thấp hơn. Một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn có giới hạn chặt chẽ hơn, thí dụ ngành ngân hàng có room ở mức 30%...

Nâng hạng thị trường chứng khoán -0

Khi Luật Chứng khoán mới có hiệu lực từ ngày 1-1-2021 cộng với những nỗ lực thay đổi chính sách để đáp ứng các tiêu chí còn chưa đạt, TTCK Việt Nam hoàn toàn có cơ hội được nâng hạng trong một đến hai năm tới. 

Luật Chứng khoán mới cũng mở rộng định nghĩa về chứng khoán. Theo đó, định nghĩa về chứng khoán bao gồm thêm chứng chỉ lưu ký (DR) và các quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR) sẽ được quy định cụ thể trong Luật DN. Đây là tin tốt cho các DN chưa được nới room nước ngoài do hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. 

Theo đại diện của UBCKNN, trong năm nay các văn bản hướng dẫn luật đang được cơ quan quản lý TTCK và các cơ quan liên quan soạn thảo và ban hành. Với nền tảng mới, những chính sách cũng như rào cản về room được gỡ bỏ một cách cơ bản, rõ ràng hơn. Sang năm 2021, với việc đưa vào hệ thống công nghệ mới, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để triển khai các dịch vụ mới như giao dịch chứng khoán chờ về, giao dịch trong ngày, đối tác bù trừ trung tâm (CCP) - là điểm quốc tế quan tâm và các trở ngại sẽ được dỡ bỏ trong|năm 2021.

Hiện nay, TTCK Việt Nam đã bắt đầu song hành với thị trường tín dụng ngân hàng trong cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế. Nhưng để TTCK phát triển nhanh, bền vững và minh bạch hơn, từ đó hướng đến mục tiêu nâng hạng thị trường, trong thời gian tới, ngoài việc tăng cung, đa dạng hóa sản phẩm cho TTCK thì cần phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường; tăng cường thanh tra giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trên thị trường, công bố kịp thời, công khai các đơn vị, cá nhân có vi phạm liên quan TTCK; cơ quan quản lý cần khuyến khích, hỗ trợ cách thức giúp DN cập nhật các thông tin DN bằng tiếng Anh để NĐT nước ngoài dễ dàng tiếp cận thông tin. Cùng với việc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong năm 2020, phải ban hành đồng bộ hệ thống nghị định và các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán, Luật DN và Luật Đầu tư, tiến đến nghiên cứu sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng (để tháo gỡ một số vướng mắc giữa pháp luật chứng khoán và pháp luật ngân hàng gây ảnh hưởng tới việc thúc đẩy nâng hạng TTCK) và các luật, nghị định liên quan trong những năm tiếp theo… kỳ vọng sẽ khơi thông những vướng mắc trên con đường nâng hạng của TTCK Việt Nam.

Tổ chức chuyên đề: VŨ MAI HOÀNG, LƯU LAN HƯƠNG, LÊ ĐỨC NGHĨA 

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.