Khoảng trống an sinh ngày càng lớn
Tại một quán cà-phê trên phố Phạm Văn Đồng (phường Phú Diễn, Hà Nội), anh Nguyễn Văn Lịch, 38 tuổi, tài xế công nghệ đã gắn bó với nghề hơn 6 năm, cho biết thu nhập của anh dao động từ 10 đến 15 triệu đồng/tháng, tùy thời điểm. Anh kể: “Lúc khỏe thì còn chạy được. Nhưng nếu chẳng may tai nạn hay ốm đau dài ngày thì coi như mất nguồn thu nhập ngay. Tôi cũng nghĩ đến chuyện đóng bảo hiểm nhưng chưa biết tham gia thế nào cho phù hợp”.
Câu chuyện của anh Lịch là thực tế của rất nhiều lao động nền tảng số hiện nay. Họ có thể chủ động lựa chọn thời gian làm việc, được hưởng lợi từ tính linh hoạt của công nghệ, nhưng lại thiếu các cơ chế bảo vệ khi gặp rủi ro.
Chị Trần Quỳnh Hương, chủ một gian hàng mỹ phẩm trên sàn thương mại điện tử cho biết, thu nhập của người bán hàng online thường biến động mạnh theo thị trường. Chị cho biết: “Có tháng doanh thu tốt nhưng cũng có tháng gần như không có lãi. Khi còn trẻ thì chưa nghĩ nhiều, nhưng đến tuổi trung niên mới thấy lo vì mình không có lương hưu, không có khoản tích lũy an sinh dài hạn”.
Tương tự, anh Trần Quốc Huy, một người giao hàng (shipper) tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, công việc giao hàng luôn tiềm ẩn rủi ro tai nạn. “Mỗi ngày chạy ngoài đường 10-12 tiếng, nguy cơ va chạm giao thông rất cao. Điều khiến tôi lo nhất là khi lớn tuổi không còn sức để chạy xe nữa thì lấy gì để sống. Nếu có lương hưu hoặc một khoản bảo đảm khi về già thì người lao động sẽ an tâm hơn rất nhiều”, anh Huy bày tỏ.
Những băn khoăn của anh Lịch, chị Hương hay anh Huy phản ánh tâm tư chung của một bộ phận lao động nền tảng số hiện nay. Các chuyên gia lao động nhận định, đây chính là khoảng trống lớn nhất của thị trường lao động hiện nay. Trong khi hệ thống BHXH đã bao phủ tương đối tốt khu vực lao động có quan hệ việc làm chính thức thì hàng triệu lao động tự do, lao động nền tảng số vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ. Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, lao động phi chính thức hiện vẫn chiếm hơn 60% tổng số lao động có việc làm. Trong nhóm này, số lượng lao động làm việc trên các nền tảng số đang gia tăng nhanh cùng với sự phát triển của thương mại điện tử và kinh tế số.
PGS, TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Khoa học lao động và Xã hội cho rằng, sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi bản chất của quan hệ lao động. Lao động nền tảng không hoàn toàn giống người lao động truyền thống, nhưng cũng không phải là những người kinh doanh độc lập. Họ làm việc dựa trên các nền tảng công nghệ, chịu sự điều phối của thuật toán, quy tắc vận hành, hệ thống đánh giá và phân phối công việc do doanh nghiệp nền tảng thiết lập. Điều đó tạo nên một dạng quan hệ lao động mới mà các khung pháp lý hiện hành chưa bao quát đầy đủ. “Nếu tiếp tục áp dụng cách tiếp cận cũ, chúng ta sẽ bỏ sót một bộ phận ngày càng lớn của lực lượng lao động. Chính sách an sinh phải theo kịp sự thay đổi của thị trường lao động”, bà Hương nhận định.
Một trong những băn khoăn phổ biến hiện nay là việc tham gia BHXH có thể làm giảm thu nhập trước mắt của người lao động. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nếu chỉ nhìn BHXH như một khoản chi phí thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của chính sách này. PGS, TS Nguyễn Thị Lan Hương cho rằng, BHXH thực chất là cơ chế bảo vệ thu nhập trong tương lai. Đây là nguồn hỗ trợ khi người lao động gặp các rủi ro như tai nạn lao động, ốm đau, suy giảm khả năng lao động hoặc khi hết tuổi lao động.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, việc chuẩn bị nguồn thu nhập ổn định cho tuổi già trở thành yêu cầu ngày càng cấp thiết. “Nếu không có cơ chế tích lũy từ sớm, nhiều người lao động có thể đối mặt nguy cơ không có nguồn sống ổn định khi về già. Khi đó, gánh nặng không chỉ thuộc về cá nhân mà còn đặt lên gia đình và xã hội”, bà Hương phân tích.
Việc đóng BHXH đối với lao động nền tảng số sẽ được thiết kế theo cơ chế nào cũng đang được các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Nếu áp dụng hoàn toàn như lao động truyền thống, doanh nghiệp nền tảng sẽ phải tham gia đóng góp cùng người lao động. Tuy nhiên, đặc thù hoạt động linh hoạt của mô hình kinh tế số khiến việc xác định trách nhiệm giữa các bên không đơn giản.
Theo BHXH Việt Nam, mở rộng diện bao phủ BHXH là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm bảo đảm an sinh xã hội bền vững và thực hiện mục tiêu BHXH toàn dân. Những năm gần đây, số người tham gia BHXH tự nguyện tăng nhanh, cho thấy nhận thức của người dân về giá trị của an sinh xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Việc nghiên cứu cơ chế tham gia phù hợp đối với tài xế công nghệ, shipper, người bán hàng online không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động mà còn góp phần thực hiện mục tiêu BHXH toàn dân. Tuy nhiên, quá trình xây dựng chính sách cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để phù hợp với đặc điểm của từng nhóm lao động.
Một số chuyên gia đề xuất doanh nghiệp nền tảng nên có trách nhiệm chia sẻ nhất định bởi họ là bên tổ chức, điều phối và hưởng lợi từ hoạt động của lực lượng lao động này. Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng cần xây dựng cơ chế đóng góp linh hoạt, tránh tạo cú sốc chi phí khiến doanh nghiệp và người lao động khó thích ứng.
Cần một mô hình BHXH mới cho lao động số
Tại cuộc họp của Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội mới đây, nhiều đại biểu cho rằng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, cần thiết lập một quan hệ pháp lý phù hợp để bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm lao động trên nền tảng số đang gia tăng nhanh.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Lâm Văn Đoan của Quốc hội nhấn mạnh, việc hoàn thiện chính sách phải thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong bảo vệ người lao động trên nền tảng số, bảo đảm các mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.
Theo các chuyên gia, giải pháp khả thi là xây dựng hệ thống BHXH đa tầng và linh hoạt. Ở tầng thứ nhất là mức bảo vệ tối thiểu bắt buộc nhằm bảo đảm mọi lao động đều có quyền tiếp cận các chế độ cơ bản. Tầng thứ hai là phần đóng góp có sự chia sẻ giữa người lao động và doanh nghiệp nền tảng để nâng cao quyền lợi thụ hưởng. Tầng thứ ba là các khoản đóng góp tự nguyện bổ sung, giúp người lao động tích lũy thêm cho tương lai.
Mô hình này vừa bảo đảm nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm giữa các bên, vừa phù hợp với đặc thù thu nhập biến động của lao động nền tảng. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng việc mở rộng diện tham gia BHXH đối với lao động nền tảng cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển của thị trường lao động. Nếu áp dụng ngay cơ chế đóng góp tương tự lao động truyền thống, chi phí của doanh nghiệp nền tảng có thể gia tăng, đồng thời ảnh hưởng đến thu nhập trước mắt của một bộ phận người lao động.
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân từng nhiều lần nhấn mạnh rằng, hệ thống an sinh xã hội phải thích ứng với các hình thức việc làm mới phát sinh từ nền kinh tế số. Trong khi đó, nhiều đại biểu Quốc hội cũng cho rằng việc mở rộng diện bao phủ BHXH là điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu BHXH toàn dân mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã điều chỉnh chính sách để đưa lao động nền tảng vào hệ thống an sinh xã hội. Xu hướng chung thừa nhận đây là một bộ phận ngày càng quan trọng của lực lượng lao động và cần được bảo vệ tương xứng với những đóng góp mà họ tạo ra cho nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi kinh tế số đang phát triển nhanh, lực lượng lao động nền tảng ngày càng đông đảo và mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 đặt ra yêu cầu phải gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Nếu tiếp tục để hàng triệu lao động nền tảng đứng ngoài hệ thống BHXH, vài chục năm tới có thể xuất hiện một bộ phận lớn người cao tuổi không có lương hưu và không có nguồn thu nhập ổn định. Khi đó, áp lực sẽ chuyển sang hệ thống trợ giúp xã hội và ngân sách nhà nước.