Logistics xanh - Đích đến bền vững

Trong chiến lược phát triển bền vững và chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, một trong những yếu tố quan trọng là xây dựng chuỗi cung ứng xanh. Với doanh nghiệp, việc “xanh hóa” chuỗi cung ứng sẽ giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên, thân thiện với môi trường, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

Trong nhiều thế kỷ qua, Việt Nam luôn là nước chịu tác động mạnh mẽ từ việc biến đổi khí hậu, sự nóng lên toàn cầu và ô nhiễm môi trường. Những năm gần đây, tình hình ô nhiễm và tàn phá môi trường tại nước ta đang dần trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng ngày càng lớn.

unnamed-3.jpg

Nằm trong khu vực phát triển năng động của thế giới, nơi tập trung các luồng hàng hóa, cùng với nền kinh tế có độ mở lớn trên 200%, xuất nhập khẩu và thương mại điện tử luôn tăng trưởng ở mức hai con số, Việt Nam được đánh giá là một thị trường có nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics.

Ngành logistics Việt Nam có thứ hạng tốt trên thế giới và trong khu vực ASEAN. Năm 2023, Việt Nam đứng thứ 43/160 quốc gia về Chỉ số Hiệu quả Logistics (LPI) và thuộc nhóm 5 nước dẫn đầu khu vực. Ngoài ra, trong báo cáo năm 2023, Việt Nam còn được xếp hạng 10/50 thị trường logistics mới nổi trên toàn cầu.

Ông Hoàng Hồng Giang, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chia sẻ: “Tại COP26, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã cam kết Việt Nam sẽ đưa phát thải ròng về mức 0. Để hiện thực hóa cam kết này, Chính phủ đã xây dựng kế hoạch và lộ trình chuyển đổi cho toàn bộ nền kinh tế. Riêng trong lĩnh vực hàng hải, Bộ Giao thông vận tải cũng đã ban hành kế hoạch và lộ trình cụ thể nhằm từng bước giảm phát thải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0”.

logistics-xanh1.jpg

Tuy nhiên trên thực tế, logistics lại là một trong những ngành tiêu thụ năng lượng và phát sinh khí thải lớn. Trong bối cảnh đó, các giải pháp phát triển logistics xanh để giảm phát thải, tận dụng các Hiệp định thương mại tự do FTA, nhất là các FTA thế hệ mới để phát triển, hỗ trợ mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu là yêu cầu quan trọng của toàn ngành.

Theo ông, Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA), Việt Nam đang sở hữu lợi thế lớn về tăng trưởng xuất nhập khẩu, đây là động lực tự nhiên gắn liền với sự phát triển của ngành logistics. Cùng với lợi thế đó, yêu cầu đặt ra là phải chú trọng phát triển logistics xanh, đặc biệt trong tối ưu vận tải. Một trong những giải pháp quan trọng thuộc quản lý nhà nước là xây dựng các trung tâm logistics cấp tỉnh và cấp vùng. Các trung tâm này có chức năng kết nối, tối ưu hóa các phương thức vận tải, từ đó vừa giảm chi phí, gia tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, vừa góp phần vào mục tiêu giảm phát thải ròng.

ong-nguyen-duy-minh-pho-chu-tich-hiep-hoi-doanh-nghiep-dich-vu-logistics-viet-nam-vla.jpg
Ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA).

Việc phát triển dịch vụ logistics song hành với tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo nhằm bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính là một mục tiêu lớn. Thí dụ trong lĩnh vực thương mại điện tử, hai khâu gây tác động lớn đến môi trường là đóng gói và giao hàng. Mỗi đơn hàng đều kèm theo bao bì riêng, từ thùng carton, túi nylon, hộp xốp đến đồ nhựa dùng một lần. Hàng ngày, hàng nghìn xe tải, ô-tô, xe máy vận chuyển hàng cho khách, đồng thời thu hồi đơn chưa nhận, tạo ra lượng khí thải carbon khổng lồ, đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp giao hàng siêu tốc.

Theo Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), chỉ trong giai đoạn 2023-2024, hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam đã tiêu thụ 332.000 tấn bao bì, trong đó riêng bao bì nhựa chiếm 171.000 tấn. Với tốc độ tăng trưởng bình quân 20-25%/năm, đến năm 2030 quy mô thương mại điện tử có thể gấp hơn bốn lần hiện nay, đồng nghĩa lượng rác thải nhựa từ bao bì có thể lên tới 800.000 tấn nếu không có giải pháp thay đổi mạnh mẽ.

Theo ông Lê Quang Trung, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC), để phát triển logistics xanh, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự đầu tư đồng bộ, bài bản từ phía Nhà nước. Trước hết, cần quy hoạch các vùng và khu logistics nhằm tăng cường khả năng kết nối. Thứ hai, phải có chính sách và quy hoạch hạ tầng phù hợp để hoàn thiện hệ thống giao thông, giảm chi phí vận tải và hạn chế thời gian chết trong quá trình vận chuyển. Thứ ba, công nghệ và nguồn nhân lực cũng cần tiếp tục được nâng cao và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của ngành logistics xanh.

Việt Nam đang sở hữu lợi thế lớn về tăng trưởng xuất nhập khẩu, đây là động lực tự nhiên gắn liền với sự phát triển của ngành logistics. Cùng với lợi thế đó, yêu cầu đặt ra là phải chú trọng phát triển logistics xanh, đặc biệt trong tối ưu vận tải. Một trong những giải pháp quan trọng thuộc quản lý nhà nước là xây dựng các trung tâm logistics cấp tỉnh và cấp vùng. Các trung tâm này có chức năng kết nối, tối ưu hóa các phương thức vận tải, từ đó vừa giảm chi phí, gia tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, vừa góp phần vào mục tiêu giảm phát thải ròng.

Ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA)

Ở khâu giao hàng, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết cơ cấu vận tải Việt Nam chưa cân đối khi vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng quá cao, trong khi phát thải khí nhà kính lại lớn hơn nhiều lần so với các phương thức khác: Cao gấp gần 22 lần hàng không, 20 lần đường biển và 250 lần đường sắt. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), mỗi năm hoạt động vận tải tại Việt Nam phát thải trên 50 triệu tấn CO2, riêng đường bộ chiếm tới 85%. Dự báo, con số này sẽ tăng lên 60 triệu tấn vào năm 2024 và 90 triệu tấn vào năm 2030, với mức tăng bình quân 6-7%/năm.

Tiến sĩ Bùi Quý Thuấn, chuyên gia Kinh tế, Giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh, Đại học Phenikaa nhận định: "Logistics xanh là một trong những mục tiêu gắn liền với phát triển bền vững, phù hợp với định hướng của Liên hợp quốc. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đưa phát thải ròng về mức 0 vào năm 2050, thể hiện quyết tâm rõ ràng trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong lộ trình này, lĩnh vực logistics giữ vai trò quan trọng khi đã được ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, từ xây dựng hệ thống logistics xanh đến đào tạo nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững".

image-12.jpg

Với định hướng phát triển logistics xanh và các giải pháp thân thiện với môi trường, vấn đề quan trọng hiện nay là hoàn thiện thể chế, chính sách về dịch vụ logictics, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics..., tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động logistics. Trọng tâm là chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong ngành logistics; coi đây vừa là yêu cầu, vừa là động lực để đổi mới và phát triển bền vững.

Theo ông Đinh Hữu Thạnh - Chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc Bee Logistics, cần sử dụng công cụ lao động và phương thức hoạt động theo hướng thân thiện với môi trường. Khi đặt mục tiêu như vậy, các giải pháp triển khai không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn nâng cao năng suất lao động.

Để phát triển logistics xanh, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự đầu tư đồng bộ, bài bản từ phía Nhà nước. Trước hết, cần quy hoạch các vùng và khu logistics nhằm tăng cường khả năng kết nối. Thứ hai, phải có chính sách và quy hoạch hạ tầng phù hợp để hoàn thiện hệ thống giao thông, giảm chi phí vận tải và hạn chế thời gian chết trong quá trình vận chuyển. Thứ ba, công nghệ và nguồn nhân lực cũng cần tiếp tục được nâng cao và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của ngành logistics xanh.

Ông Lê Quang Trung, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC)

11.jpg
Lĩnh vực logistics giữ vai trò quan trọng khi đã được ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, từ xây dựng hệ thống logistics xanh đến đào tạo nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.. (Ảnh: KHIẾU MINH)

Để thực hiện mục tiêu phát triển logistics xanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường, các chuyên gia cho rằng cần có một chiến lược cụ thể với những định hướng trọng tâm sau:

Một là Bộ Công thương phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và cơ quan liên quan để cụ thể hóa, tham mưu thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển dịch vụ logistics.

Hai là khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành Chiến lược phát triển ngành logistics Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới.

Chiến lược này cần chú trọng định hướng phát triển logistics xanh, giải pháp thân thiện môi trường; đồng thời hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, cũng như nội luật hóa các cam kết quốc tế liên quan.

Ba là đặt trọng tâm vào chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong ngành logistics, coi đây vừa là yêu cầu tất yếu vừa là động lực đổi mới để bảo đảm phát triển bền vững.

Bốn là xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước, bộ ngành, địa phương với hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy thực hiện chính sách phát triển logistics và khuyến khích doanh nghiệp chủ động hướng tới logistics xanh.

Năm là tăng cường hợp tác và liên kết quốc tế, nhất là trong lĩnh vực đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm về logistics xanh, logistics số và logistics thương mại điện tử, nhằm nâng cao năng lực, sức cạnh tranh và khả năng làm chủ các chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tới.

Có thể bạn quan tâm

Bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam. (Ảnh: HẢI HÀ)

Đan Mạch sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi

Đan Mạch sẵn sàng chia sẻ về những mô hình thành công và những bài học kinh nghiệm phát triển điện gió ngoài khơi để hỗ trợ Việt Nam hiện thực hóa các mục tiêu chuyển dịch năng lượng xanh. Đây là khẳng định của bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam tại cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân.

Hội thảo tham vấn “Giải pháp dựa vào tự nhiên nhằm phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản và cơ hội tham gia thị trường carbon trong tương lai”, ngày 29/9.

Phục hồi rừng sau khai khoáng gắn với cơ hội phát triển thị trường carbon

Phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản cần được thực hiện theo hướng dựa vào tự nhiên, gắn với quản lý tài nguyên theo cảnh quan và bảo đảm duy trì các chức năng sinh thái lâu dài. Cùng với đó, phát triển các dự án tín chỉ carbon rừng phù hợp có thể tạo thêm nguồn lực cho công tác phục hồi và quản lý rừng bền vững.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Bất động sản ESG ngày càng có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường. (Ảnh: Cộng tác viên)

Bất động sản ESG đang trở thành xu thế tất yếu

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), bất động sản xanh phát triển theo các tiêu chuẩn ESG (Môi trường-Xã hội-Quản trị) không còn là lựa chọn mang tính tự nguyện mà đang trở thành xu hướng tất yếu của thị trường.

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chủ trương phát triển kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là lựa chọn vừa là yêu cầu tất yếu khách quan trước tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Hydro có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo.

Đánh thức nguồn năng lượng mới

Trong xu hướng toàn cầu về giảm phát thải, việc tìm kiếm và khai thác nguồn năng lượng thân thiện môi trường nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong các giải pháp đó là năng lượng từ khí hydro (H2; hydrogen) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh hiệu quả.

Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm túi bảo vệ môi trường thay cho túi nylon khi đi mua sắm tại siêu thị. (Ảnh: TÙNG DƯƠNG)

Kinh tế xanh: Từ chính sách đến lựa chọn tiêu dùng

Tiêu dùng xanh ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Khi người tiêu dùng ưu tiên những sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên là góp phần giảm áp lực lên môi trường, đồng thời tạo điều kiện và động lực để doanh nghiệp đổi mới sản xuất, hướng tới nền kinh tế xanh.

Các doanh nghiệp mang tới sự kiện các giải pháp vật liệu nhẹ và bền vững. (Ảnh: THÙY LINH)

Vật liệu xanh: Xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên Net Zero

Ngành vật liệu xây dựng đang đứng trước bước chuyển mang tính lịch sử. Nếu trước đây giá thành, chất lượng và năng lực sản xuất là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh, thì nay hàm lượng vật liệu tái chế và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn ESG đang trở thành tiêu chí quan trọng để ngành xây dựng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Nhiên liệu hàng không bền vững: Cơ hội và nút thắt của Việt Nam

Vỏ trấu, mỡ cá tra và dầu ăn đã qua sử dụng đều có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ASEAN có nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng đến nay vẫn chưa có nhà máy sản xuất, các hãng hàng không trong nước phải nhập khẩu loại nhiên liệu này với chi phí cao gấp nhiều lần.

Đúng giờ mở cửa thị trường, nguyên Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà cùng các đại biểu đã thực hiện nghi thức khai trương Sàn Giao dịch carbon trong nước, bắt đầu phiên giao dịch đầu tiên của thị trường carbon.. (Ảnh: BTC)

Khơi thông nguồn lực cho kinh tế xanh

Sàn Giao dịch carbon đi vào hoạt động không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn tạo cơ chế để các doanh nghiệp chủ động tối ưu chi phí giảm phát thải thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Nguồn vốn tín dụng xanh đang góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đầu tư vào các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Tín dụng xanh khó đến doanh nghiệp nhỏ nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ

Tín dụng xanh đang tăng trưởng nhanh, nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này vẫn là thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo các chuyên gia, để tiếp cận tín dụng xanh, doanh nghiệp không chỉ cần vốn mà còn phải đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu, ESG và chuyển đổi mô hình sản xuất.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.