Khơi thông nguồn lực từ tín chỉ carbon rừng

Từ chỗ chủ yếu được nhìn nhận là tài nguyên cần bảo vệ, rừng đang từng bước được định vị là “tài sản xanh”, có thể tham gia thị trường carbon toàn cầu, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0.

Khơi thông nguồn lực từ tín chỉ carbon rừng. (Ảnh: Đỗ Bảo)
Khơi thông nguồn lực từ tín chỉ carbon rừng. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Năm 2023, lần đầu tiên Việt Nam chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng tự nhiên cho Ngân hàng Thế giới, thu về 51,5 triệu USD. Đến tháng 8/2025, Việt Nam chuyển nhượng thêm 1 triệu tấn CO2 giảm thải được từ vùng Bắc Trung Bộ, theo mức trung bình 5 USD mỗi tấn trong lần chi trả trước, Việt Nam có thể thu về 5 triệu USD. Những dấu mốc này đã mở ra cách tiếp cận mới trong phát huy giá trị đa dụng của rừng, biến tiềm năng sinh thái thành nguồn lực phát triển.

Giá trị từ rừng, nguồn lực cho kinh tế xanh

Ở nhiều địa phương có tỷ lệ che phủ rừng cao, tín chỉ carbon không còn là khái niệm xa vời mà đang dần hiện hữu như một cơ chế tạo nguồn lực mới cho bảo vệ và phát triển rừng.

Tại Quảng Trị, từ nguồn thu bán tín chỉ carbon, hàng chục tỷ đồng đã được phân bổ cho chủ rừng, cộng đồng và lực lượng quản lý rừng. Những cánh rừng vì thế không chỉ giữ màu xanh sinh thái mà đang mang thêm giá trị kinh tế bền vững.

dqwadasqwdwq.jpg
Anh Hồ Văn Kiên, thành viên tổ bảo vệ rừng cộng đồng xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Anh Hồ Văn Kiên, thành viên tổ bảo vệ rừng cộng đồng xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị chia sẻ, có thêm nguồn kinh phí từ tín chỉ carbon rừng, người dân càng thêm động lực gắn bó với rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng tốt hơn.

Ông Phan Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị nhận định: “Tín chỉ carbon rừng là nguồn lực quan trọng hỗ trợ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, đồng thời hỗ trợ cộng đồng dân cư phát triển thêm các công trình phúc lợi, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng cho người dân”.

Đà Nẵng, với tỷ lệ che phủ rừng thuộc nhóm cao nhất cả nước, cũng đang được đánh giá có tiềm năng lớn phát triển thị trường tín chỉ carbon.

Theo ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, trữ lượng rừng và khả năng hấp thụ carbon của địa phương rất lớn. Đây là tiềm năng rất lớn cho phát triển chứng chỉ carbon ở Việt Nam. Những tín hiệu ấy cho thấy, từ giữ rừng đến tạo giá trị từ rừng đang là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển lâm nghiệp.

Việt Nam hiện có hơn 14,8 triệu ha rừng, trong đó trên 11 triệu ha là rừng tự nhiên. Theo tính toán của các chuyên gia, mỗi năm rừng Việt Nam hấp thụ ròng xấp xỉ 40 triệu tấn carbon.

qudwdsd.jpg
Đà Nẵng với tỷ lệ che phủ rừng thuộc nhóm cao nhất cả nước, cũng đang được đánh giá có tiềm năng lớn phát triển thị trường tín chỉ carbon. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng đây là tiềm năng rất lớn nếu sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để vận hành thị trường.

Đây là động lực huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách cho chiến lược phát triển lâm nghiệp, đồng thời tạo thêm nguồn lực để chủ rừng, người dân tiếp tục gắn bó với rừng, thúc đẩy quản trị rừng hiện đại hơn”, ông Phạm Hồng Lượng nhấn mạnh.

Đáng chú ý, giá trị của tín chỉ carbon không dừng ở nguồn thu. Cơ chế này còn mở ra động lực đổi mới công nghệ, thúc đẩy sản xuất xanh, nâng cao chất lượng rừng, gắn bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế. Trong bối cảnh thị trường carbon toàn cầu được dự báo đạt quy mô hàng trăm tỷ USD vào năm 2030, việc chủ động tham gia thị trường này không chỉ là cơ hội kinh tế mà còn là bước đi chiến lược.

ong-pham-hong-luong.jpg
Ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). (Ảnh: Đỗ Bảo)

Hoàn thiện thể chế để hình thành thị trường carbon rừng

Theo Luật Lâm nghiệp 2017, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng đã được luật hóa, trở thành một trong năm loại dịch vụ môi trường rừng. Điều này tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phát triển thị trường carbon rừng. Hiện Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để vận hành sàn giao dịch carbon vào năm 2029.

Thực tế cho thấy, việc xây dựng thị trường tín chỉ carbon rừng vẫn đối mặt nhiều rào cản từ khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế chia sẻ lợi ích, đến hệ thống đo đạc, báo cáo, kiểm chứng phát thải.

Ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững cho rằng cần sớm có các quy định mang tính chuyên ngành về đối tượng tham gia, phương thức đo đếm, cơ chế khuyến khích đầu tư và chia sẻ lợi ích.

Cùng quan điểm này, ông Phạm Hồng Lượng nhấn mạnh: “Điều quan trọng hiện nay là tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, làm rõ quyền carbon, tiêu chuẩn carbon, hệ thống đo đạc, báo cáo, kiểm chứng và nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia thị trường”. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để Việt Nam từng bước hình thành và vận hành hiệu quả thị trường carbon trong nước, đồng thời kết nối với thị trường quốc tế.

Ông Phan Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Ông Phan Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Tín chỉ carbon rừng không chỉ là câu chuyện mua bán phát thải. Xa hơn, đây là bước chuyển trong tư duy phát triển, từ bảo vệ rừng đơn thuần sang phát triển kinh tế dưới tán rừng; từ coi rừng chỉ là tài nguyên cần gìn giữ sang nhìn nhận rừng là nguồn lực có thể tạo giá trị mới.

Bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, để từng bước hình thành và vận hành hiệu quả thị trường tín chỉ carbon rừng, Bộ đang tập trung xây dựng bốn nhóm định hướng trọng tâm nhằm thể chế hóa dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật cho lĩnh vực còn rất mới mẻ này.

Theo bà Thúy, trước hết, trọng tâm đặt ra là hoàn thiện khung pháp lý đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, bảo đảm quản lý chặt chẽ đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), tránh phát hành hoặc chuyển nhượng tín chỉ vượt quá phần đóng góp giảm phát thải của Việt Nam.

Cùng với đó, các cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý và vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, bao gồm thị trường carbon bắt buộc, cơ chế giao dịch và giám sát thị trường cũng đang được nghiên cứu, hoàn thiện.

Hiện Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để vận hành sàn giao dịch carbon vào năm 2029. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Hiện Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để vận hành sàn giao dịch carbon vào năm 2029. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Một định hướng quan trọng khác là xây dựng khung kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn cho thị trường carbon rừng. Trong đó, việc xây dựng bộ tiêu chuẩn carbon rừng quốc gia được xem là nền tảng để các dự án carbon đăng ký, triển khai và được công nhận theo một chuẩn thống nhất.

Theo bà Thúy, việc triển khai các dự án thí điểm theo tiêu chuẩn quốc gia không chỉ giúp hoàn thiện phương pháp đo đạc, báo cáo, thẩm định, kiểm chứng lượng giảm phát thải, mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để từng bước nhân rộng mô hình trong thời gian tới.

Trong bối cảnh thế giới theo đuổi mục tiêu phát thải ròng bằng 0, việc phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng sẽ góp phần khơi thông nguồn lực tài chính cho bảo vệ rừng, nâng cao sinh kế người dân, phát triển kinh tế lâm nghiệp và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh.

Như nhận định của nhiều chuyên gia, dư địa của Việt Nam còn rất lớn. Vấn đề còn lại là sớm hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi để biến tiềm năng ấy thành nguồn lực phát triển. Khi đó, rừng không chỉ giữ màu xanh cho đất nước, mà còn trở thành “nguồn vốn xanh” cho tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.

Mô hình nhà máy xanh.

Hiệu quả từ mô hình sử dụng tài nguyên hướng đến phát triển xanh bền vững

Mô hình sản xuất không chất thải của Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi công nghiệp xanh, bền vững tại Việt Nam. Đơn vị đã tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất sét từ mỏ riêng, áp dụng công nghệ hiện đại để tái sử dụng toàn bộ chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, không phát sinh rác thải ra môi trường.