Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn

Các tham luận được trình bày tại hội thảo chuyên đề “Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn” đã góp phần nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn đối với hệ thống carbon rừng tại Việt Nam, với trọng tâm là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và rừng ngập mặn.

Quang cảnh hội thảo.
Quang cảnh hội thảo.

Ngày 6/4, tại Hà Nội, Viện Tư vấn Phát triển (Viện CODE) đã tổ chức hội thảo chuyên đề với chủ đề “Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn”.

Tham dự và trình bày tại hội thảo có Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE). Các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực carbon rừng nhiệt đới như Giáo sư Bảo Huy - tác giả của công thức tính Carbon rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh Trung Trung Bộ và Bắc Trung Bộ; Giáo sư Goelthenboth - Nhà khoa học về rừng mưa nhiệt đới và đa dạng sinh học thuộc Trường đại học Hohenheim, Cộng hòa Liên bang Đức; Tiến sĩ John Quayler - Nhà sáng lập Quỹ Rừng mưa Indonesia kiêm Giám đốc Điều hành chương trình Indo Reco Asia; Tiến sĩ Yingshan Lau - Nghiên cứu viên dự án “Quản trị khí hậu đối với các bể hấp thụ carbon dựa vào Tự nhiên ở Đông Nam Á”, và các đại diện đến từ một số trường đại học ở Hà Nội; đại diện các Hợp tác xã lâm nghiệp đến từ các tỉnh Kon Tum, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển cho biết, Việt Nam đang bước vào giai đoạn quyết định trong phát triển thị trường carbon, được thúc đẩy bởi cam kết Net Zero 2050 và việc dần thiết lập các khung pháp lý trong nước. Sự chuyển đổi này đánh dấu sự dịch chuyển từ các sáng kiến thí điểm manh mún, phân tán sang nhu cầu về một hệ thống đồng bộ và mạch lạc có khả năng liên kết giảm thiểu biến đổi khí hậu với các ưu tiên phát triển quốc gia.

ndo_br_ht2.jpg
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển chia sẻ tại hội thảo.

Theo Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, hệ sinh thái rừng, đặc biệt là ở vùng cao và các lưu vực đầu nguồn, đóng vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi này. Nơi đây có các hệ thống sinh thái-xã hội liên kết chặt chẽ, cùng duy trì các chức năng về hấp thụ carbon, đa dạng sinh học, điều tiết nguồn nước và sinh kế. Do đó, giá trị carbon được hình thành và tích hợp trong các quá trình ở cấp độ cảnh quan thay vì chỉ dựa vào các can thiệp đơn lẻ. Phát triển thị trường carbon hiệu quả đòi hỏi các phương pháp tiếp cận nhằm hài hòa các chức năng sinh thái với các cơ chế quản trị và kinh tế.

“Các cơ chế liên quan đến carbon hiện nay ở Việt Nam đang phát triển song song nhưng thiếu liên kết. Khung chính sách, hệ thống kỹ thuật và công cụ thị trường đang được phát triển ở các lĩnh vực và cấp độ khác nhau, song vẫn đang thiếu sự phối hợp hiệu quả. Điều này dẫn đến sự thiếu nhất quán trong triển khai, chưa rõ ràng về vai trò và trách nhiệm của các bên và sự phân bổ giá trị không đồng đều. Trong bối cảnh đó, thách thức không chỉ dừng lại ở việc mở rộng các sáng kiến carbon, mà còn là tổ chức và tích hợp chúng thành một hệ thống thống nhất, với các liên kết thể chế rõ ràng và logic vận hành nhất quán”, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh.

Tại hội thảo, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực carbon rừng nhiệt đới đã trình bày tham luận liên quan đến các vấn đề như: Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon và chiến lược đồng quản trị (bối cảnh Việt Nam); tính an toàn về kinh tế tự chủ trong tình trạng khánh kiệt của cảnh quan trong thế giới biến động; kinh tế tuần hoàn; tín chỉ carbon ở Australia; tín chỉ carbon – Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về quyền tài sản và cấu trúc thị trường; đo lường báo cáo và thẩm định tín chỉ carbon có sự tham gia của chủ rừng; đồng quản trị rừng dựa vào cộng đồng; tầm quan trọng của phương pháp đo lường, báo cáo và thẩm định tín chỉ carbon rừng có sự tham gia của chủ rừng; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về carbon trong sinh khối thực vật và các tầng đất…

Các tham luận được trình bày tại hội thảo đã giúp tăng cường hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn đối với hệ thống carbon rừng tại Việt Nam, với trọng tâm là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và rừng ngập mặn. Đồng thời, góp phần làm rõ các khái niệm về tín chỉ carbon trong bối cảnh giao dịch thị trường trong nước, đặc biệt là cấu trúc và cách thức vận hành của chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, bao gồm các quy trình, các tác nhân và dòng giá trị từ quá trình tạo ra carbon đến trao đổi trên thị trường.

Hội thảo cũng phân tích giá trị gia tăng được tạo ra trong hệ thống carbon và vai trò của đồng quản trị tại các lưu vực trong việc định hình các chuỗi giá trị này.

Trên cơ sở đó, hội thảo thúc đẩy hiểu biết mang tính phân tích và thực tiễn về các thiết chế quản trị định hình hệ thống carbon rừng. Trọng tâm được đặt vào các mô hình đồng quản trị tại các lưu vực, nhằm liên kết quản lý carbon với các quá trình sinh thái và thể chế ở cấp độ cảnh quan, qua đó tạo điều kiện phối hợp giữa các tác nhân và tăng cường tích hợp hệ thống.

Các thảo luận này cung cấp cơ sở cho việc thiết kế các hệ thống carbon kết nối quản trị dựa vào cộng đồng với các khuôn khổ quốc gia và cơ chế thị trường.

ndo_tl_ht1.jpg
Bà Nguyễn Xuân Thảo - Chuyên gia tài chính carbon trình bày tham luận tại hội thảo về vấn đề "Tín chỉ carbon – Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về quyền tài sản và cấu trúc thị trường".

Hội thảo cũng xác định và phân tích các phương pháp đo đạc-báo cáo-thẩm định nhằm bảo đảm tính thống nhất về kỹ thuật, đồng thời khả thi về mặt vận hành. Nội dung này bao gồm việc xem xét các lộ trình tích hợp giám sát dựa vào cộng đồng vào các hệ thống đo đạc-báo cáo-thẩm định quốc gia thông qua các cách tiếp cận có sự tham gia, qua đó nâng cao năng lực tạo lập dữ liệu, thẩm định và tính minh bạch.

Đặc biệt, hội thảo nhấn mạnh việc cân bằng giữa độ tin cậy, tính khả thi và hiệu quả chi phí, đồng thời tăng cường vai trò của các tác nhân địa phương trong các quy trình hạch toán carbon.

Bên cạnh đó, hội thảo khởi xướng nghiên cứu thí điểm ứng dụng nhằm chuyển hóa các cách tiếp cận mang tính khái niệm thành các mô hình vận hành cụ thể. Dự án thí điểm thứ nhất tập trung vào mô hình đồng quản trị lưu vực, với sự tham gia của 525 chủ rừng thuộc tám cộng đồng, quản lý khoảng 9.700 ha rừng sản xuất tự nhiên tại xã Cao Quảng, tỉnh Quảng Bình.

Và quan trọng hơn cả là hội thảo góp phần củng cố mối liên kết giữa các khung chính sách, thực tiễn triển khai và sự tham gia của cộng đồng. Thông qua việc kết nối các diễn biến pháp lý với các mô hình thực nghiệm và các thiết chế gắn với địa phương, hội thảo hỗ trợ thiết kế các hệ thống chuỗi cung ứng tín chỉ carbon một cách thống nhất, có khả năng mở rộng và bao trùm. Qua đó, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong các phân khúc thị trường carbon có tính toàn vẹn cao thông qua việc cải thiện tính nhất quán của hệ thống, tăng cường minh bạch và thúc đẩy sự tham gia công bằng.

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Báo cáo ASEAN 2050 SAF Outlook công bố vừa qua - do tổ chức tư vấn GHD thực hiện, với sự tài trợ của Quỹ Thương mại và Đầu tư Canada vì phát triển (CTIF), đối tác tri thức Boeing và Ban Thư ký ASEAN - cho thấy Đông Nam Á sở hữu tiềm năng lớn trong sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) từ phế thải nông lâm nghiệp. 

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên cùng cán bộ, nhân dân xã Mường Nhà ra quân đào hố trồng cây cà-phê, mắc-ca trong ngày 2/4.

Lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên chung sức cùng nhân dân trồng mới cây cà-phê, mắc-ca

Chủ động triển khai kế hoạch trồng mới cây cà-phê, mắc-ca đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, ngày 2/4, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tổ chức Hội nghị Ban Chỉ đạo thực hiện chiến dịch "Điện Biên Phủ trong thời bình cơ cấu lại ngành nông nghiệp..." (gọi tắt là BCĐ 1850) của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên.

Hà Nội từng bước đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường.

Từ ngày 1/4, Hà Nội vận hành 10 tuyến buýt điện

Từ ngày 1/4/2026, Hà Nội đưa vào vận hành 10 tuyến xe buýt điện với tổng số 288 phương tiện. Đây là bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển hệ thống vận tải công cộng xanh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị. 

Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến mô hình thân thiện với môi trường. (Ảnh: KHÁNH TRÌNH)

Giúp doanh nghiệp bứt phá trong chuyển đổi xanh

Với những biến động khó lường về kinh tế, địa chính trị trên toàn cầu, yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững không còn là lựa chọn dài hạn mà đã trở thành đòi hỏi cấp bách đối với nền kinh tế Việt Nam.

Người dân thành phố Huế đang quen dần với việc phân loại rác tại nguồn.

Huế tìm giải pháp giảm bao bì nhựa, kết nối chính sách với thực tiễn

Ngày 20/3, tại thành phố Huế, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Huế (HueIDS) và Dự án “Huế - Đô thị giảm nhựa ở miền trung Việt Nam” (WWF-Việt Nam) tổ chức Diễn đàn quốc gia về thúc đẩy giảm bao bì nhựa thông qua chính sách và thí điểm tại địa phương.

Bốn em trong nhóm Dự án Green Era trao tiền, phối hợp Đoàn Thanh niên Khu bảo tồn Thiên nhiên Đakrông chăm sóc vườn cây. (Ảnh: Quang Huy)

Gieo hạt giống xanh cho một kỷ nguyên xanh

Giữa những thách thức ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu toàn cầu, câu chuyện về Dự án Green Era do một nhóm học sinh trung học phổ thông sáng lập để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc.

Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ.

Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ

Năm 2024, năng lượng tái tạo mới chiếm 12,8% sản lượng điện quốc gia, trong khi mục tiêu đến năm 2050 là 71,5%. Để rút ngắn khoảng cách ấy, Việt Nam cần đồng thời giải ba bài toán: hoàn thiện khung pháp lý, huy động 136,3 tỷ USD vốn đầu tư, và đưa phụ nữ từ vị trí "bên lề" vào trung tâm cuộc chuyển dịch.

Chuyển dịch năng lượng: Khi công nghệ trở thành chìa khóa của Net Zero. Ảnh minh họa.

Chuyển dịch năng lượng: Khi công nghệ trở thành chìa khóa của Net Zero

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, năng lượng không còn chỉ là yếu tố bảo đảm cho sản xuất và đời sống, mà đã trở thành trụ cột quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Hành khách hoàn thành thủ tục hàng không, chuẩn bị ra tàu bay.

Nội Bài tăng 8 bậc trong Top 100 sân bay tốt nhất thế giới

Với vị trí thứ 71 trong bảng xếp hạng Skytrax 2026, Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài không chỉ ghi nhận bước tiến mạnh mẽ về thứ hạng mà còn khẳng định sự ổn định bền vững khi đây là lần thứ 8 cửa ngõ hàng không Thủ đô vinh dự góp mặt trong danh sách 100 sân bay tốt nhất toàn cầu.

Ứng dụng công nghệ số giúp ngành kiểm lâm Sơn La thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.

Thu hút đầu tư vào thị trường carbon rừng

Trong bối cảnh thực hiện giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, thị trường carbon rừng đang trở thành kênh tài chính xanh quan trọng. Với tiềm năng hấp thụ carbon lớn, Việt Nam có nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường này. 

Hồ thuỷ điện Trị An (Ảnh: Tiến Khôi)

Phát huy giá trị di sản Thủy điện Trị An: Bước đi vững chắc trong chuyển dịch năng lượng bền vững

Trong hành trình tiến tới mục tiêu Net Zero 2050, dự án Thủy điện Trị An mở rộng tại Đồng Nai nổi lên như lời giải kinh tế cho bài toán lưu trữ năng lượng phía nam, thay thế pin BESS lưu trữ vốn tốn kém. Công trình giúp ổn định lưới điện quốc gia và còn là sự tiếp nối hào hùng, nâng tầm giá trị di sản lịch sử của ngành điện.

Vietnam Airlines hiện đại hóa đội tàu bay thông qua đầu tư vào các dòng máy bay thế hệ mới, giúp giảm tiêu hao nhiên liệu.

Hướng đi bền vững cho các cửa ngõ Thủ đô

Khi chuyển đổi xanh đã trở thành một loại “giấy thông hành” để hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào các thị trường khó tính, để ngành logistics chạm đến quy mô của một "siêu ngành" 280 tỷ USD, đạt được mục tiêu hạ tỷ lệ chi phí logistics so với GDP thì xanh hóa các cửa ngõ chính là sự nâng cấp tất yếu của hệ thống hạ tầng.

Phân loại thủy hải sản ở cảng cá Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh THANH HẢI)

Tháo điểm nghẽn để giữ thị trường

“Xanh hóa” với thủy sản Việt Nam đang trở thành yêu cầu bắt buộc khi EU, Mỹ, Nhật Bản siết tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất và bao bì tái chế. Thị trường không chỉ đòi hỏi chất lượng và giá, mà còn đòi hỏi dấu chân carbon.