Làm rõ trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số

Theo đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số cần có các quy định làm rõ trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số để tăng cường việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Phân loại cụ thể tài sản số để có phương án quản lý tương ứng

Sáng 30/11, trong phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Công nghiệp công nghệ số, các quy định liên quan đến tài sản số và trí tuệ nhân tạo (AI) nhận được sự quan tâm cho ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội.

Nhất trí với sự cần thiết quy định về tài sản số trong dự thảo Luật, đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An) cho biết, hiện nay các báo cáo nghiên cứu, thống kê đều cho thấy Việt Nam đang đứng thứ hai thế giới về tỷ lệ người sở hữu tài sản số, với khoảng 20 triệu người; hằng năm có khoảng 120 tỷ USD tiền mã hóa được đổ vào Việt Nam.

Đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An). (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An). (Ảnh: DUY LINH)

Vì vậy, nếu không có khung khổ pháp lý cho hình thức sở hữu này thì sẽ bỏ qua một mảng rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý cần phải có sự phân loại cụ thể tài sản số để có những phương án quản lý khác nhau.

“Đối với tiền mã hóa thì có những quy định khác, tài sản số đại diện hoặc tài sản ảo trong hệ sinh thái kỹ thuật số thì cũng phải có những quy định khác nhau. Thí dụ như ở Trung Quốc hiện nay người ta cấm hoàn toàn các giao dịch đối với tiền mã hóa nhưng lại cho phép giao dịch đối với một số tài sản số khác”, đại biểu Hiếu nêu quan điểm.

Ngoài ra, đại biểu cho rằng, dự thảo còn thiếu các quy định làm rõ trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số, qua đó tăng cường việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Qua kinh nghiệm của các nước cho thấy đây là một nội dung rất quan trọng, chẳng hạn pháp luật của Liên minh châu Âu đặt ra những quy định rất cụ thể về trách nhiệm của nhà phát hành tài sản số, như phải đăng ký hoạt động, phải cam kết chịu trách nhiệm pháp lý đối với các sản phẩm được phát hành,

Đồng thời, các nền tảng giao dịch và lưu trữ tài sản số phải được cấp phép hoạt động và phải duy trì bảo mật thông tin cũng như minh bạch trong quá trình giao dịch.

Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Trà Vinh) đề xuất bổ sung thêm các ví dụ cụ thể về tài sản số như tài sản trí tuệ số, NFT (Non-Fungible Token), tiền mã hóa (cryptocurrency), và tài sản số liên quan đến dữ liệu lớn (big data). Điều này giúp minh họa phạm vi áp dụng và tránh gây hiểu nhầm.

Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Trà Vinh). (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Trà Vinh). (Ảnh: DUY LINH)

Về tài sản mã hóa, đại biểu đề nghị làm rõ hơn sự khác biệt giữa tài sản mã hóa và các tài sản số khác, nhấn mạnh rằng tài sản mã hóa có thể bao gồm cả các token tiện ích (utility tokens) và token chứng khoán (security tokens).

Theo đại biểu Bế Trung Anh (đoàn Trà Vinh), trong luật này đã định nghĩa về tài sản số, nhưng chưa có định nghĩa về tiền số. “Chẳng lẽ chúng ta lại mua bán, giao dịch tài sản số bằng tiền thật. Cho nên, tôi đề nghị cần phải có khái niệm “tiền số” đưa vào để quản lý”, đại biểu đề xuất.

Bổ sung nguyên tắc quản lý rủi ro theo mức độ với các hệ thống AI

Đối với phát triển trí tuệ nhân tạo, đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An) nêu rõ, hiện nay việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, đem lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại rất nhiều vấn đề.

Vì vậy, các quy định trong dự thảo Luật cần phải bảo đảm nguyên tắc vừa khuyến khích, tạo điều kiện để phát triển trí tuệ nhân tạo nhưng cũng vừa phải có những quy định để bảo đảm việc phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đúng định hướng.

Phân tích sâu hơn, đại biểu cho biết, liên quan thúc đẩy phát triển của trí tuệ nhân tạo, tại Điều 65 dự thảo Luật đã phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo thành 3 loại là rủi ro cao, tác động cao và rủi ro thấp. Tuy nhiên, dự thảo chưa làm rõ mục đích của việc phân loại này.

Đại biểu Hiếu đề nghị cần bổ sung nguyên tắc quản lý rủi ro theo từng mức độ phân tầng như trên. Theo đó, có thể nghiên cứu để quy định đối với hệ thống rủi ro thấp chỉ cần yêu cầu nhà phát triển và cung cấp dịch vụ tự công bố tuân thủ các quy định về xây dựng và phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo mà không áp dụng cơ chế tiền kiểm, để tạo không gian cho sự phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo.

Các đại biểu Quốc hội dự phiên họp sáng 30/11. (Ảnh: DUY LINH)

Các đại biểu Quốc hội dự phiên họp sáng 30/11. (Ảnh: DUY LINH)

Đối với hệ thống rủi ro cao, trước khi được triển khai, cần phải qua hệ thống kiểm tra độc lập và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để bổ sung quy định về việc thiết lập cơ chế giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho nhà phát triển và cung cấp nếu họ đã tuân thủ đầy đủ các quy định nhưng vẫn phát sinh sự cố ngoài ý muốn.

Ngoài ra, đại biểu đoàn Nghệ An cũng đề nghị bổ sung thêm một số quy định để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình theo đúng nguyên tắc đã đặt ra tại Điều 64 dự thảo luật. Cụ thể, nghiên cứu, bổ sung quy định nhà phát triển và cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo phải cung cấp tài liệu kỹ thuật, giải thích cơ chế hoạt động của các thuật toán của hệ thống trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là đối với những hệ thống có rủi ro cao.

Đồng thời, quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc xây dựng một bộ chỉ số minh bạch để đánh giá mức độ rõ ràng của hệ thống, thí dụ như là khả năng giải thích đầu ra của hệ thống trí tuệ nhân tạo cho người dùng là những người không chuyên ngành.

Nhấn mạnh quyền riêng tư là một trong những vấn đề quan trọng nhất khi áp dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo, đại biểu đề nghị trong dự thảo Luật cần có quy định yêu cầu nhà phát triển phải thực hiện đánh giá tác động đến quyền riêng tư trước khi triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo, nhất là những hệ thống có rủi ro cao.

Đại biểu Điểu Huỳnh Sang (đoàn Bình Phước). (Ảnh: DUY LINH)

Đại biểu Điểu Huỳnh Sang (đoàn Bình Phước). (Ảnh: DUY LINH)

Cũng quan tâm đến quản lý rủi ro đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo, đại biểu Điểu Huỳnh Sang (đoàn Bình Phước) đề nghị ban soạn thảo cần quy định cụ thể các tiêu chí để xác định hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao, giới hạn cụ thể về khả năng tác động cũng như phạm vi tác động, số lượng người dùng và lượng tính toán tích lũy để được xem là có rủi ro cao, nhằm cụ thể hóa trong quá trình thực hiện, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và khả thi khi triển khai.

Có thể bạn quan tâm

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại lễ ký kết. (Ảnh: FPT)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam chủ động tham gia chuỗi giá trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

FPT và Mila - Viện nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu thế giới vừa ký kết hợp tác nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng kỳ vọng hợp tác góp phần tạo giải pháp thiết thực, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và định hình quy chuẩn quản trị AI toàn cầu.

Đại diện Viện VPI và Beicip-Franlab Asia ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí. (Ảnh: VPI)

Tăng cường hợp tác nghiên cứu công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí

Ngày 13/8, tại Hà Nội, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) thuộc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Beicip Technology Solutions Sdn. Bhd. (Beicip-Franlab Asia) đã ký kết Biên bản ghi nhớ tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

PILA (Việt Nam) ký kết hợp tác chiến lược cùng TOTM Technologies (Singapore). (Ảnh: NGỌC ANH)

Thúc đẩy hạ tầng niềm tin số xuyên biên giới trong khu vực ASEAN

Trong tiến trình chuyển dịch sang môi trường số, việc xác thực danh tính, chứng từ và dữ liệu đã trở thành điều kiện tiên quyết nhằm thúc đẩy thương mại xuyên biên giới. Bên cạnh hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu, các giao dịch số đòi hỏi một cơ chế kiểm chứng độc lập, nhanh chóng và bảo đảm tính tin cậy giữa các bên.

Các đại diện hai bên Việt Nam-Nhật Bản ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác tại diễn đàn. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Đưa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào chiều sâu, kiến tạo các giá trị mới

Các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học và đại biểu tham dự diễn đàn đều bày tỏ tin tưởng, hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, từ kết nối sang hợp tác, từ hợp tác sang cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị mới.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kiến trúc “vòm xanh” do kiến trúc sư An Việt Dũng thiết kế.

Kiến trúc cho đô thị xanh

Cửa thang máy tầng thượng tòa nhà 11 tầng trên phố Lê Duẩn (Hà Nội) vừa mở, đón chúng tôi không phải cái nắng chói chang buổi trưa mùa hạ mà là một không gian xanh mát. Cùng với bóng cây là hệ thống phun sương và gió trời khiến cảm giác ngột ngạt đô thị dường như biến mất.