Làm chủ AI từ nhà trường: Nền tảng của nguồn nhân lực chất lượng cao

Phát biểu kết luận tại Phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 30/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển căn bản từ mô hình phát triển dựa vào lao động giản đơn sang lao động sáng tạo, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 30/7. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 30/7. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cách con người học tập, làm việc và sáng tạo, giáo dục đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để không chỉ trang bị kỹ năng sử dụng AI, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực làm chủ công nghệ, tư duy phản biện và đổi mới sáng tạo cho thế hệ công dân tương lai.

Giáo dục trở thành mặt trận đầu tiên của cuộc đua AI

Trong vòng chưa đầy ba năm, trí tuệ nhân tạo (AI) đã bước ra khỏi các phòng nghiên cứu để hiện diện trong lớp học của nhiều quốc gia. Khi Hàn Quốc đầu tư hàng trăm triệu USD triển khai sách giáo khoa AI, Trung Quốc xây dựng lộ trình đưa AI vào trường học đến năm 2030, còn Nhật Bản ưu tiên hoàn thiện hạ tầng số trước khi phổ cập AI trong giáo dục, có thể thấy cuộc cạnh tranh về công nghệ thực chất đã trở thành cuộc cạnh tranh về nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, giáo dục không còn là lĩnh vực đi sau sự phát triển của AI, mà trở thành nơi quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong tương lai.

Làn sóng AI đang làm thay đổi căn bản cách con người học tập, làm việc và sáng tạo. Để chuẩn bị cho sự dịch chuyển đó, nhiều quốc gia đã lựa chọn đầu tư vào giáo dục từ rất sớm.

Hàn Quốc quyết định đầu tư khoảng 850 triệu USD triển khai hệ thống sách giáo khoa tích hợp AI trên phạm vi toàn quốc, hướng tới cá nhân hóa việc học cho từng học sinh. Trung Quốc cũng đang tăng tốc với ít nhất 11 địa phương như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông... ban hành chính sách riêng nhằm đưa AI vào lớp học trước năm 2030. Trong khi đó, Nhật Bản lựa chọn cách tiếp cận thận trọng hơn khi tập trung hoàn thiện hạ tầng số, bảo đảm mọi học sinh đều có thiết bị học tập trước khi triển khai các nền tảng AI trên diện rộng.

Ba quốc gia với ba cách tiếp cận khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một điểm chung: AI không được xem đơn thuần là một công nghệ mới, mà là năng lực nền tảng của công dân trong tương lai. Đầu tư cho AI vì thế trước hết là đầu tư cho giáo dục, bởi chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.

Từ chủ trương chiến lược đến yêu cầu đổi mới giáo dục

Việt Nam cũng đang tiếp cận xu hướng này bằng những định hướng chiến lược mang tính dài hạn.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu, tạo động lực mới cho phát triển đất nước. Tiếp đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đổi mới giáo dục và đào tạo tiếp tục đặt ra yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có năng lực số, khả năng đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ.

Nếu Nghị quyết 57 xác lập khoa học, công nghệ là động lực phát triển mới của đất nước thì Nghị quyết 71 đặt ra yêu cầu chuẩn bị con người cho chính động lực ấy. Điểm mới không nằm ở việc bổ sung thêm kiến thức về AI, mà ở sự chuyển dịch tư duy giáo dục: từ truyền thụ tri thức sang phát triển năng lực; từ học để biết sang học để làm chủ công nghệ, giải quyết vấn đề và học tập suốt đời.

Cùng với đó, Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đã tạo nền tảng pháp lý cho việc phát triển và ứng dụng AI an toàn, minh bạch, có trách nhiệm. Hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện đang mở ra điều kiện để các cơ sở giáo dục chủ động đổi mới phương pháp dạy học, quản trị và đào tạo nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

Đặc biệt, mới đây, kết luận tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 30/7, của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh việc chuyển căn bản từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Đồng chí xác định đây là mục tiêu lớn, đồng thời là thước đo quan trọng của việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW trong giai đoạn mới.

Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: “Từng bước chuyển từ mô hình phát triển chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, gia công, lắp ráp và khai thác lợi thế sẵn có sang mô hình phát triển chủ yếu dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao, trong đó người nông dân làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại, người công nhân làm chủ công nghệ và thiết bị tiên tiến, đội ngũ doanh nhân tiên phong trong đổi mới sáng tạo, đội ngũ cán bộ chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Lao động sáng tạo phải trở thành nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia trong tương lai”.

Vì thế, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng hiện diện sâu rộng trong học tập, lao động và đời sống, mục tiêu của giáo dục không thể dừng ở việc trang bị cho người học kỹ năng sử dụng các công cụ AI. Điều cốt lõi là hình thành năng lực làm chủ công nghệ, tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và tinh thần học tập suốt đời để mỗi cá nhân có thể tạo ra giá trị mới thay vì chỉ tiếp nhận tri thức sẵn có.

Người học đã đi trước, giáo dục cần dẫn họ đi đúng hướng

Một thực tế đáng chú ý là AI đã xuất hiện trong hoạt động học tập của người Việt nhanh hơn nhiều dự báo.

Theo nghiên cứu của Microsoft phối hợp với Viện Kinh tế AI, tỷ lệ sử dụng AI tạo sinh tại Việt Nam đạt 23,5%, cao hơn mức trung bình toàn cầu là 16,3%. Con số này phản ánh khả năng thích ứng nhanh của người Việt trước các công nghệ mới, đồng thời cho thấy AI đã trở thành công cụ quen thuộc trong học tập và làm việc của nhiều học sinh, sinh viên.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là quá trình tiếp cận đó phần lớn vẫn mang tính tự phát. Người học biết sử dụng AI để tìm kiếm thông tin, tóm tắt tài liệu, hỗ trợ giải bài tập hay phát triển ý tưởng, nhưng chưa phải lúc nào cũng được trang bị đầy đủ kỹ năng kiểm chứng thông tin, đánh giá độ tin cậy của nguồn dữ liệu hay nhận diện những hạn chế trong câu trả lời do AI tạo ra.

Điều đó đặt ra một nghịch lý đáng suy ngẫm: người học đã đi trước một bước trong việc sử dụng AI, nhưng giáo dục cần đi trước một bước trong việc định hướng cách sử dụng AI.

Bởi vậy, câu hỏi đặt ra hiện nay không còn là "có nên sử dụng AI trong giáo dục hay không", mà là "làm thế nào để AI giúp người học phát triển tư duy thay vì thay thế tư duy".

Trong bối cảnh AI có thể cung cấp thông tin gần như tức thời, lợi thế của con người không còn nằm ở khả năng ghi nhớ nhiều hơn máy tính. Giá trị cốt lõi của người học nằm ở khả năng đặt câu hỏi, phản biện, kiểm chứng, kết nối thông tin và đưa ra quyết định. Đây cũng chính là những năng lực mà giáo dục cần ưu tiên phát triển trong kỷ nguyên mới.

Mô hình thực tiễn: tư duy phản biện và làm chủ công nghệ

Thực tiễn từ các cơ sở giáo dục tiên phong đã mang lại những gợi mở quan trọng cho bài toán này. Điển hình như mô hình ứng dụng AI có kiểm soát đang được triển khai tại hệ thống FPT Schools. Thay vì coi AI là công cụ làm bài hộ hay phương tiện tra cứu đáp án đơn thuần, nhà trường đưa AI vào quy trình dạy và học như một đối trọng tư duy.

1785895883836-5676284246726537912-5676284246726537912-37ad3df798387a4ae537a72ca142d2fb.jpg
Cô giáo Trịnh Thị Trúc Ly trong một giờ lên lớp. (Ảnh: FPT cung cấp)

Trong mô hình này, học sinh không tiếp nhận thông tin từ AI một cách thụ động. Trái lại, các em được rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề, liên tục vạch ra các câu hỏi phản biện, đối chiếu kết quả do AI cung cấp với các nguồn dữ liệu chính thống và tài liệu khoa học tin cậy. Công nghệ đóng vai trò là trợ lý gợi mở, còn năng lực phân tích, kiểm chứng và quyết định cuối cùng hoàn toàn thuộc về tư duy của người học.

Minh chứng rõ nét cho phương pháp luận này là đề tài “Từ "AI trả lời" đến "học sinh phản biện": mô hình dạy học môn xã hội trong thời đại trí tuệ nhân tạo” của cô Trịnh Thị Trúc Ly và các đồng nghiệp tại FPT School Sóc Trăng.

Đứng trước một bài văn do AI tạo ra có cấu trúc trôi chảy nhưng thiếu vắng trải nghiệm và sự thấu cảm thực tế, nhóm giáo viên đã hướng dẫn học sinh vạch ra ranh giới giữa tri thức máy tính và giá trị nhân văn. Học sinh được rèn luyện cách chất vấn lại đáp án của AI, tìm ra những điểm còn thiếu để hoàn thiện bằng tư duy và cảm xúc của chính mình.

Cách tiếp cận bài bản đó không chỉ giúp phòng ngừa rủi ro lạm dụng công nghệ, mà quan trọng hơn, đã biến AI thành công cụ rèn luyện bản lĩnh khoa học, tư duy phản biện và tinh thần "học thật, làm thật" cho học sinh ngay từ bậc học phổ thông.

Đầu tư cho giáo dục trong kỷ nguyên AI, vì thế, không chỉ là chuẩn bị nguồn nhân lực cho hôm nay, mà là kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia và động lực phát triển bền vững của đất nước trong nhiều thập niên tới. Và cuộc đua phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI là bài kiểm tra toàn diện về tầm nhìn và năng lực hành động của hệ thống giáo dục.

Với đường lối chiến lược đúng đắn từ các Nghị quyết của Đảng, hạ tầng pháp lý ngày càng hoàn thiện và những chỉ đạo, định hướng liên tục trong từng giai đoạn phát triển của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cùng sự chủ động từ các mô hình giáo dục thực tiễn, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để chủ động chuẩn bị một thế hệ trẻ có đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh và năng lực làm chủ khoa học công nghệ, sẵn sàng đóng góp thực chất vào sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Hình ảnh tại buổi gặp mặt đội tuyển tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp thành phố năm học 2026-2027. (Ảnh: Trường THPT Việt Đức)

Hà Nội: Công bố kết quả giải thi chọn học sinh giỏi Thành phố và chọn đội tuyển dự thi cấp quốc gia

Ngày 13/10, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội công bố Quyết định công nhận học sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi thành phố và chọn đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia các môn văn hóa lớp 12 cấp trung học phổ thông năm học 2026-2027. Năm nay, thành phố có 3.331 học sinh đoạt giải. 

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng đoàn Giám sát chủ trì hội nghị. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giám sát việc thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: Tập trung vào lĩnh vực giáo dục phổ thông

Ngày 13/10, tại trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đoàn giám sát của Ban Bí thư Trung ương Đảng về triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tổ chức Hội nghị công bố quyết định và kế hoạch giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Phiên thảo luận với chủ đề "Gen Z & Dấu chân xanh” tập trung vào những vấn đề thiết thực với người trẻ trong thời đại số. (Ảnh: DƯƠNG TRIỀU)

Trang bị kỹ năng tài chính số an toàn cho sinh viên

Ngày 12/10, tại Hà Nội, báo Tiền Phong phối hợp một số đơn vị tổ chức tọa đàm “Chạm số - Sống xanh” nhằm tạo diễn đàn để sinh viên trao đổi về xu hướng thanh toán số, kỹ năng quản lý tài chính cá nhân, an toàn giao dịch, góp phần lan tỏa thông điệp về lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm trong thế hệ trẻ. 

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Đại học Phenikaa. (Ảnh: THƠM VŨ)

Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ trong giáo dục đại học

Cùng với đào tạo, công tác nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ là một trụ cột quan trọng của giáo dục đại học. Thời gian qua, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được các cơ sở giáo dục đại học tích cực triển khai nhằm góp phần tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Ngày hội quy tụ gần 70 trường đại học và tổ chức giáo dục hàng đầu đại diện cho 17 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. (Ảnh: BTC)

Hợp tác giáo dục mở rộng ra nhiều cơ hội học tập cho sinh viên Việt Nam tại Liên minh châu Âu

Tuần lễ Giáo dục châu Âu 2026 đã chính thức khép lại sau chuỗi hoạt động sôi nổi diễn ra từ ngày 8-11/10 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sự kiện quy tụ gần 70 trường đại học, cơ sở giáo dục đến từ 17 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), thu hút hơn 2.700 học sinh, sinh viên và phụ huynh.

Một trong 4 ưu tiên của giáo dục Việt Nam trong quá trình chuyển đổi số là đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Trong ảnh: Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cùng các đại biểu tại Triển lãm Giáo dục và công nghệ giáo dục. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Bốn ưu tiên của giáo dục và đào tạo trong quá trình chuyển đổi số

Trong bối cảnh công nghệ số và AI mở ra những cơ hội rất lớn cho giáo dục, nhưng đồng thời đặt ra các thách thức, đòi hỏi người học, người thầy, nhà trường và cả hệ thống giáo dục cũng phải chuyển đổi để không chỉ thích ứng mà còn từng bước làm chủ, định hướng việc sử dụng AI vì sự phát triển của con người.

Các học viên lớp xóa mù chữ ở bản Làng Sáng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Quản lý bằng dữ liệu với giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, bảo đảm quyền học tập của người dân

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng quy định về điều kiện bảo đảm, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ với quan điểm xuyên suốt là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.